Hơn 860.000 người dân nội đô trong lộ trình tái thiết Thủ đô
Trong báo cáo về các nội dung chính của Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm được UBND TP Hà Nội trình HĐND TP mới đây, một con số đặc biệt thu hút sự chú ý là hơn 860.000 người dân nội đô sẽ được bố trí lại chỗ ở trong quá trình tái cấu trúc đô thị.
Theo TP Hà Nội, tái cấu trúc đô thị không đơn thuần là điều chỉnh không gian xây dựng, mà hướng tới một cuộc “cách mạng toàn diện” về kiến trúc - cảnh quan, nhà ở và di sản đô thị. Tư duy bảo tồn cũng được xác định chuyển từ mô hình “bảo tồn - cải tạo” sang “tái thiết giá trị”, vừa giữ gìn bản sắc, vừa nâng cao chất lượng sống.
Về phạm vi, tái cấu trúc đô thị Hà Nội được xác định chủ yếu từ Vành đai 3 trở vào, trong đó ưu tiên khu vực Vành đai 1 và Vành đai 2, nơi tập trung mật độ dân cư cao, hạ tầng quá tải và nhiều không gian di sản đặc thù.
Các khu vực trọng điểm gắn với tái cấu trúc bao gồm: trung tâm chính trị, hành chính Ba Đình; khu vực hồ Gươm và phụ cận; khu phố cổ, phố cũ; hồ Tây và vùng phụ cận; cùng trục cảnh quan hai bên sông Hồng.
Theo lộ trình, giai đoạn 2026-2035, Hà Nội dự kiến di dời khoảng 200.000 người tại khu vực sông Hồng, 200.000 người tại hồ Tây và vùng phụ cận, 42.000 người tại một số tuyến phố trong phạm vi Vành đai 3.
Sang giai đoạn 2036-2045, quy mô di dời tiếp tục mở rộng, gồm 26.730 người tại khu phố cổ, 23.000 người tại khu phố cũ, 370.000 người tại các khu vực còn lại trong Vành đai 3.
Tính chung trong giai đoạn 2026-2045, tổng số người dân được bố trí lại chỗ ở để phục vụ tái cấu trúc đô thị lên tới hơn 860.000 người.
Song song với việc di dời, Hà Nội xác định tái cấu trúc dân cư theo hướng giãn dân nội đô, giảm áp lực cho khu vực trung tâm. Người dân thuộc diện giải tỏa sẽ được bố trí tái định cư một phần tại chỗ, phần còn lại tại các khu đô thị mới thuộc các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc.
Những khu vực này được định hướng đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, với hệ thống trường học, bệnh viện, công viên, dịch vụ công cộng đầy đủ, nhằm bảo đảm điều kiện sống tốt hơn hoặc ít nhất tương đương nơi ở cũ. Về nguồn lực, tổng nhu cầu vốn cho tái cấu trúc đô thị giai đoạn 2026-2045 ước khoảng 64,84 triệu tỷ đồng.
Trong đó, giai đoạn 2026-2035 cần khoảng 14,5 triệu tỷ đồng, giai đoạn 2036-2045 cần 50,34 triệu tỷ đồng, với sự tham gia chủ đạo của khu vực tư nhân và nguồn lực xã hội, bên cạnh đầu tư công cho hạ tầng thiết yếu và an sinh.
Mô hình “chùm đô thị hướng tâm” và 9 siêu trung tâm Quy hoạch cũng xác định cấu trúc Vùng đô thị Hà Nội theo mô hình “chùm đô thị hướng tâm”, với 9 cực tăng trưởng và 9 trung tâm lớn, gắn với 9 trục không gian và hành lang kinh tế bám theo các trục giao thông huyết mạch.
Theo đó, quy hoạch 9 cực tăng trưởng, gồm: đô thị trung tâm (hữu ngạn sông Hồng); cực phía bắc (Đông Anh - Mê Linh - Sóc Sơn); cực phía đông (Gia Lâm - Long Biên); cực phía nam - đô thị trung tâm (Thường Tín - Phú Xuyên). Cực phía nam là đô thị Vân Đình - Đại Nghĩa; cực phía tây nam (Xuân Mai - Chương Mỹ); cực phía tây (Hòa Lạc); cực phía tây bắc (đô thị Sơn Tây - Ba Vì); cực sông Hồng (không gian cảnh quan đặc biệt, tài chính, du lịch…).
Quy hoạch 9 trung tâm lớn (theo quy mô, tính chất, vai trò, tiềm năng thế mạnh vượt trội), gồm: trung tâm đô thị nam sông Hồng (chính trị - hành chính quốc gia và thành phố; trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, GDĐT, KHCN và hội nhập quốc tế).
Trung tâm đô thị bắc sông Hồng (kinh tế - dịch vụ - hội nhập kinh tế, quốc tế); trung tâm đô thị phía đông (thương mại dịch vụ - hội nhập quốc tế - y tế - du lịch - logistics - GDĐT).
Trung tâm đô thị Olympic (thể thao quốc gia, quốc tế); trung tâm đô thị Phú Xuyên (logistics - y tế - công nghiệp công nghệ cao - hội nhập quốc tế); trung tâm đô thị Vân Đình - Đại Nghĩa (di sản - văn hóa tâm linh - du lịch dịch vụ, sinh thái - làng nghề).
Trung tâm đô thị Xuân Mai (GDĐT - sinh thái cảnh quan - du lịch dịch vụ); trung tâm đô thị Hòa Lạc (trung tâm KHCN đổi mới sáng tạo; GDĐT - y tế); trung tâm đô thị Sơn Tây (văn hóa - di sản - đào tạo - y tế - sinh thái cảnh quan).
Đáng chú ý, quy hoạch đặt chất lượng sống của người dân được đặt lên hàng đầu, lấy hài lòng, hạnh phúc và chất lượng sống làm thước đo quyết định cho mọi kế hoạch phát triển.
Thành phố cũng chú trọng giải quyết ùn tắc giao thông, ngập úng đô thị, ô nhiễm môi trường, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm và đưa ra các giải pháp căn bản.
Đi đầu trong đổi mới tư duy quy hoạch đô thị
Trao đổi với VietTimes, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, đánh giá Hà Nội đang thể hiện sự linh hoạt và chủ động rất rõ trong công tác quy hoạch và phát triển đô thị. Chỉ trong tháng 12/2024, Chính phủ đã phê duyệt cho Thủ đô hai quy hoạch quan trọng: Quy hoạch Thủ đô thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Quy hoạch chung Thủ đô điều chỉnh đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
Điểm đặc biệt là mới đây, với sự thống nhất của Chính phủ, Hà Nội đã tiến thêm một bước khi hợp nhất hai quy hoạch này thành một hệ quy hoạch tổng thể, có tầm nhìn và chất lượng cao hơn. Nếu như trước đây, quy hoạch đô thị chủ yếu đặt trong khung định hướng 40-50 năm, thì nay Hà Nội đã mạnh dạn đặt ra tầm nhìn phát triển đô thị tới 100 năm. Đây là một bước đổi mới rất căn bản trong tư duy quy hoạch.
Ông Nghiêm cho biết trong quy hoạch được phê duyệt cuối năm 2024, Hà Nội xác định phát triển đô thị đồng bộ theo năm loại hình không gian, gồm: không gian công cộng, không gian trên cao, không gian ngầm, không gian văn hóa và không gian sáng tạo.
Cùng với đó là định hướng phát triển đô thị theo năm cực tăng trưởng, các vành đai kinh tế và năm trục động lực, trong đó trục sông Hồng được xác định là một hướng phát triển mới mang tính đột phá.
Tuy nhiên, trong định hướng cập nhật mới nhất đã được Thành ủy Hà Nội thông qua, mô hình phát triển tiếp tục được mở rộng và nâng tầm. Theo đó, Hà Nội sẽ phát triển theo 9 cực tăng trưởng, gắn với 9 trục không gian và 9 hành lang kinh tế, bám sát cấu trúc đô thị.
Đáng chú ý, trong số các trục không gian này, có 2-3 trục được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển không chỉ cho Thủ đô mà cho cả khu vực và cả nước.
“Có thể nói, Hà Nội đã có những bước đổi mới bước đầu rất đáng ghi nhận trong tư duy quy hoạch đô thị. Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn không ít thách thức”, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm thẳng thắn nhìn nhận.
Theo ông Nghiêm, thách thức lớn đầu tiên là bài toán nguồn lực cho phát triển đô thị. Ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 40-50%, thậm chí trong một số giai đoạn chỉ đạt 60% nhu cầu đầu tư.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, đi kèm với các cơ chế, chính sách ưu đãi đủ hấp dẫn. Việc Hà Nội đang sửa đổi Luật Thủ đô để bổ sung các cơ chế đặc thù, tương tự như những gì TP.HCM, Đà Nẵng hay Đà Lạt đang triển khai, được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa huy động nguồn lực cho phát triển.
Thách thức thứ hai, theo ông Nghiêm, là làm thế nào để cân đối hài hòa giữa các yêu cầu phát triển. Phát triển đô thị không thể chỉ chạy theo tăng trưởng hay mở rộng không gian, mà phải song hành với cải tạo, chỉnh trang đô thị, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa - lịch sử. Đây là bài toán khó, đòi hỏi tư duy tổng hợp và sự kiên trì trong tổ chức thực hiện.
Một yếu tố đặc biệt quan trọng khác là liên kết vùng. Không chỉ dừng lại ở sự hài hòa trong từng địa phương, phát triển đô thị cần đặt trong tổng thể liên kết giữa các vùng kinh tế của cả nước. Với Hà Nội, trách nhiệm không chỉ là phát triển vì Thủ đô, mà còn phải đóng vai trò đầu tàu, tạo động lực cho phát triển chung của quốc gia. Những dự án lớn như trục sông Hồng, theo ông Nghiêm, chính là ví dụ tiêu biểu cho tư duy “Hà Nội vì cả nước, và cả nước cùng phát triển với Hà Nội”.