close Đăng nhập

Tàu sân bay Trung Quốc ngày càng nhiều nhưng vẫn lộ “gót chân Asin” trước tàu ngầm Mỹ

Hạm đội tàu sân bay Trung Quốc ngày càng lớn nhưng vẫn tồn tại khoảng trống trong tác chiến dưới mặt biển, tạo lợi thế cho tàu ngầm Mỹ.

Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng hạm đội tàu sân bay của mình, nhưng những con tàu này có thể dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công của tàu ngầm. Ảnh: CCTV.
Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng hạm đội tàu sân bay của mình, nhưng những con tàu này có thể dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công của tàu ngầm. Ảnh: CCTV.

Hải quân Trung Quốc vẫn đang tụt hậu so với Mỹ trong tác chiến dưới biển, một lĩnh vực có thể trở thành điểm yếu đáng kể khi Bắc Kinh đưa các tàu sân bay ngày càng hiện đại hoạt động xa hơn khỏi bờ biển.

Một báo cáo mới cho rằng hạm đội tàu sân bay đang mở rộng nhanh chóng của Trung Quốc có thể đối mặt với nguy cơ bị tàu ngầm đối phương tập kích, trong bối cảnh năng lực phát hiện, theo dõi và kiểm soát môi trường dưới biển của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) vẫn chưa theo kịp Mỹ.

Khoảng cách này ngày càng đáng chú ý khi Bắc Kinh liên tục phát triển các tàu sân bay thế hệ mới và đưa chúng hoạt động sâu hơn ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Đây cũng là nơi kiến thức của PLAN về môi trường tác chiến dưới biển vẫn được đánh giá là kém xa Hải quân Mỹ.

Một báo cáo gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), có trụ sở tại Washington, đã đề xuất một chiến lược nhằm “đẩy chi phí” đối với Trung Quốc, qua đó tạo ra nhiều hướng tấn công khác nhau nhằm vào các nhóm tác chiến tàu sân bay của nước này.

Chiến lược bao gồm mạng lưới tên lửa tấn công đặt trên đất liền, các cuộc không kích tầm xa được hỗ trợ bởi vệ tinh, tác chiến mạng và tác chiến điện từ, cùng với các đàn máy bay không người lái.

Tuy nhiên, yếu tố thứ năm của chiến lược – phục kích bằng tàu ngầm – mới là điểm mà nhiều chuyên gia cho rằng Hải quân Trung Quốc dễ bị tổn thương nhất.

Cụ thể, báo cáo xác định các tàu ngầm tấn công của Mỹ hoạt động tại Tây Thái Bình Dương là một trong những mối đe dọa đáng gờm nhất đối với các biên đội tàu sân bay Trung Quốc. Những khoảng trống trong năng lực phát hiện và theo dõi mục tiêu dưới nước có thể khiến các chiến hạm có giá trị cao này bị phơi bày trước các cuộc tấn công.

“Gót chân Achilles” nằm dưới mặt nước

Địa lý khu vực càng làm gia tăng điểm yếu này.

Để triển khai chiến lược nói trên, Mỹ và các đồng minh sẽ cần kiểm soát một số lượng hạn chế các điểm nghẽn hàng hải dọc theo “chuỗi đảo thứ nhất” – mạng lưới các quần đảo kéo dài từ Nhật Bản xuống tới Borneo, nằm giữa hạm đội Trung Quốc và vùng biển rộng lớn của Thái Bình Dương.

Theo chiến lược được nêu trong báo cáo, tàu ngầm cùng nhiều lực lượng khác có thể được bố trí tại các tuyến hàng hải chiến lược này để đe dọa các nhóm tàu sân bay Trung Quốc khi chúng đi qua.

Khi các nhóm tàu tiến xa hơn ra biển, máy bay trên tàu sân bay có thể tiến hành các cuộc không kích tầm xa nhằm vào tàu sân bay đối phương, sử dụng vệ tinh để giám sát và xác định mục tiêu. Trong khi đó, các cuộc tấn công nhằm vào hệ thống cảm biến và thông tin liên lạc có thể làm gián đoạn hoạt động của lực lượng Trung Quốc.

Christopher Sharman, Giám đốc Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc thuộc Trường Hải chiến Hải quân Mỹ, nhận định với tư cách cá nhân rằng điểm yếu dưới biển được báo cáo đề cập “vẫn đáng kể cho đến ngày nay”, dù đây không phải một hạn chế cố định.

“Trong những năm gần đây, PLAN đã đầu tư mạnh vào các năng lực nhằm nâng cao nhận thức và khả năng dự đoán môi trường tác chiến dưới biển”, ông nói.

Tuy nhiên, ông Sharman cho rằng những khoảng trống quan trọng vẫn tồn tại.

“Các tác giả có liên hệ với PLAN thừa nhận rằng năng lực khí tượng và hải dương học của Trung Quốc vẫn tụt hậu so với Hải quân Mỹ”, ông nói.

Theo chuyên gia này, sự thiếu hụt tương đối về hiểu biết đối với môi trường tác chiến dưới biển tiếp tục cản trở các hoạt động tàu ngầm và chống ngầm của PLAN, đặc biệt là tại những vùng biển nằm bên ngoài chuỗi đảo thứ nhất.

tau-san-bay-khong-nguoi-lai-dau-tien-tren-the-gioi-xuat-hien-lop-type-076-cua-trung-quoc-co-gi-2.png
Tàu sân bay Tứ Xuyên. Ảnh: MW.

Trung Quốc đang tìm cách lấp khoảng trống

Bắc Kinh đã triển khai nhiều chương trình nhằm thu hẹp khoảng cách này.

Một ví dụ là chương trình “Đại dương trong suốt” (Transparent Ocean), được đề xuất lần đầu cách đây hơn một thập niên. Chương trình hướng tới xây dựng một mạng lưới vệ tinh, tàu nghiên cứu, phao quan trắc, phương tiện lượn dưới nước và cảm biến đáy biển để thu thập dữ liệu hải dương học tại những khu vực có ý nghĩa chiến lược như Tây Thái Bình Dương, Biển Đông và Ấn Độ Dương.

Các nguồn tin Trung Quốc đã công khai liên hệ chương trình này với mục tiêu an ninh quốc gia. Đại học Hải dương Trung Quốc, đơn vị từng đưa ra đề xuất ban đầu, cho biết đã thiết lập hàng trăm hệ thống quan trắc biển sâu và mở rộng mạng lưới giám sát từ Biển Đông ra Tây Thái Bình Dương.

Trung Quốc đồng thời cũng tăng cường năng lực tác chiến chống tàu ngầm.

Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc đã ghi nhận sự gia tăng của các máy bay tuần tra hàng hải cánh cố định và các tàu giám sát đại dương Type 927 được trang bị sonar kéo. Bắc Kinh cũng nâng cấp các cảm biến trên máy bay và trực thăng chuyên săn tìm tàu ngầm.

Dù vậy, các nhà phân tích chiến lược hải quân cho rằng thách thức đối với PLA còn lớn hơn việc đơn thuần bảo vệ các tàu sân bay.

“Tác chiến dưới biển là một thành phần cốt lõi trong chiến lược hải quân của Trung Quốc”, ông Sharman nói. “Trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, năng lực này có ý nghĩa then chốt đối với mục tiêu giành quyền kiểm soát biển của PLAN trong thời chiến.”

“Xa hơn chuỗi đảo thứ nhất và tiến vào Ấn Độ Dương, các chiến lược gia PLA coi hoạt động tác chiến dưới biển hiệu quả là điều cần thiết để đối phó ưu thế hải quân của Mỹ và làm phức tạp khả năng can thiệp của bên thứ ba trong một cuộc xung đột liên quan đến đảo Đài Loan”, ông nói thêm.

Tàu sân bay càng đi xa, rủi ro càng lớn

Một số tác giả có liên hệ với quân đội Trung Quốc từng cảnh báo rằng vùng biển gần bờ của đảo Đài Loan giống như một “cánh cửa mở rộng” bởi Trung Quốc chưa đủ khả năng giám sát và kiểm soát toàn diện để ngăn các đối thủ tiềm tàng tiếp cận.

Timothy Heath, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu quốc phòng của Perceptum, cho rằng tác chiến chống tàu ngầm vẫn là một thách thức đối với Trung Quốc, đặc biệt bởi tàu ngầm Mỹ thuộc nhóm những tàu ngầm yên tĩnh nhất thế giới.

Ông cũng cho rằng sự tham gia của Nhật Bản trong bất kỳ cuộc xung đột nào liên quan đến đảo Đài Loan sẽ khiến tình hình trở nên nghiêm trọng hơn, bởi Tokyo có thể tìm cách tấn công và tiêu diệt các chiến hạm Trung Quốc hoạt động gần lãnh hải của mình.

Trong kịch bản đó, tàu sân bay Trung Quốc có thể được triển khai tại Tây Thái Bình Dương để cung cấp khả năng yểm trợ trên không cho các lực lượng hải quân tìm cách trì hoãn hoặc ngăn chặn sự can thiệp của bên thứ ba vào một cuộc xung đột quanh đảo Đài Loan.

Tuy nhiên, ông Heath cảnh báo rằng Trung Quốc “sẽ thật thiếu khôn ngoan nếu đưa tàu sân bay đi xa đến vậy”, bởi các chiến hạm này có thể trở thành mục tiêu của nhiều phương thức tấn công khác nhau từ Mỹ.

“Tên lửa đạn đạo tầm trung phóng từ đất liền của Trung Quốc vẫn là lựa chọn tốt nhất để đe dọa tàu chiến Mỹ tới tận chuỗi đảo thứ hai. Tàu sân bay quá đắt đỏ và có giá trị để được triển khai theo cách dễ bị tổn thương như vậy”, ông nói.

Bài toán không chỉ là xây thêm tàu sân bay

Các tác giả báo cáo cho rằng những khó khăn mà Trung Quốc phải đối mặt trong việc bảo vệ tàu sân bay khi chúng hoạt động ngày càng xa bờ cần được tính đến trong các quyết định mua sắm quốc phòng của Mỹ.

Báo cáo kêu gọi Washington tăng đầu tư vào ngư lôi, phương tiện không người lái dưới nước và năng lực sản xuất tên lửa, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các đồng minh như Nhật Bản và Australia.

Đối với Bắc Kinh, bài toán ngày càng không còn đơn giản là Trung Quốc có thể đóng bao nhiêu tàu sân bay.

Thách thức lớn hơn là liệu năng lực tác chiến dưới biển của PLAN có thể phát triển đủ nhanh để bảo vệ những tàu sân bay đó khi Trung Quốc tham vọng đưa chúng hoạt động ngày càng xa khỏi bờ biển nước này hay không.

Trong chiến tranh hải quân hiện đại, sở hữu một hạm đội tàu sân bay lớn có thể mang lại sức mạnh đáng kể. Nhưng nếu đối phương vẫn có thể tiếp cận, theo dõi và phục kích những chiến hạm trị giá hàng tỷ USD từ dưới lòng biển, thì chính ưu thế số lượng đó cũng có thể trở thành một điểm yếu chiến lược.

Theo SCMP, CSIS

Thế giới