close Đăng nhập

Quy hoạch Hà Nội 100 năm: Phải tính đến công trình dịch vụ, hạ tầng xã hội dưới lòng đất

Theo KTS Đào Ngọc Nghiêm, không gian ngâm không chỉ là giao thông ngầm, mà phải phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đồng thời tính đến cả các công trình dịch vụ, thương mại và hạ tầng xã hội dưới lòng đất.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Hà Nội đang xây dựng Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, nhiều vấn đề cốt lõi như mô hình phát triển đô thị, hạ tầng giao thông, không gian ngầm hay bảo tồn vùng lõi tiếp tục được đặt ra.

Là người tham gia tới 7/9 lần điều chỉnh quy hoạch chung của Thủ đô, KTS Đào Ngọc Nghiêm – nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, chia sẻ với VietTimes về những điểm đột phá, thách thức và ưu tiên chiến lược trong lần quy hoạch này.

img-6531.jpg
Định hướng phát triển không gian đến năm 2065 của Hà Nội.

Tư duy mới và mô hình đô thị đa cực

- Với tầm nhìn 100 năm, ông đánh giá đâu là điểm đột phá lớn nhất trong dự thảo Quy hoạch Thủ đô lần này so với các quy hoạch trước đây?

- Việt Nam đã nghiên cứu quy hoạch từ sớm, vừa là công cụ định hướng phát triển, vừa phục vụ quản lý. Từ sau 1954 đến nay, hệ thống quy hoạch đã nhiều lần điều chỉnh; riêng Hà Nội đã có 8 lần quy hoạch chung được phê duyệt và lần này là lần thứ 9.

Quy hoạch lần này có hai điểm nổi bật. Thứ nhất, đây là quy hoạch tích hợp tất cả các ngành, không chỉ của Thủ đô mà còn bao gồm một số nội dung của quy hoạch quốc gia, quy hoạch kỹ thuật và các quy hoạch chuyên ngành khác.

Thứ hai là tầm nhìn 100 năm, dài hơn so với trước, nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác quy hoạch và phù hợp với định hướng nâng cao tầm nhìn. Với tầm nhìn đó, quy hoạch sẽ được phân kỳ theo các mốc như 2030, 2045, 2065…gắn với các giai đoạn phát triển, sự kiện của Thủ đô và đất nước.

- Dự thảo đề xuất mô hình “chùm đô thị”. Theo ông, mô hình này có phù hợp với đặc điểm tự nhiên, lịch sử và cấu trúc đô thị của Hà Nội không? Điểm khác biệt so với hiện nay là gì?

- Mô hình “chùm đô thị” của Hà Nội đã được đặt ra từ trước và nhận được nhiều sự đồng thuận, đặc biệt sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008, khi Hà Nội trở thành đô thị có quy mô lớn nhất cả nước.

Tuy nhiên, cách hiểu về mô hình này có sự thay đổi. Trước đây, trong quy hoạch 98 năm 2011, “chùm đô thị” được xác định theo cấu trúc đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái. Các đô thị vệ tinh vẫn phụ thuộc vào đô thị trung tâm, đảm nhận một số chức năng nhất định và có mối liên kết chặt chẽ với khu vực lõi.

anh-1-vt.jpg
KTS Đào Ngọc Nghiêm chia sẻ với phóng viên VietTimes. Ảnh: Quỳnh An.

Điểm mới của quy hoạch lần này là chuyển sang mô hình “chùm đô thị” theo hướng đa cực, đa trung tâm. Tức là mỗi khu vực, mỗi đô thị trong chùm đều có tính độc lập tương đối, có chức năng và vai trò riêng, không chỉ phụ thuộc vào đô thị trung tâm như trước.

Về mức độ phù hợp, có thể thấy hệ thống đô thị của Hà Nội hiện nay đã phát triển rộng, nhiều đô thị. Mô hình đa cực, đa trung tâm vì vậy phù hợp với quá trình phát triển lịch sử, đồng thời tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện đô thị hóa trong thời gian tới.

img-6532.jpg
Quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị liên vùng và lộ trình triển khai theo dự thảo.

Cần nghiên cứu kỹ các loại hình TOD, áp dụng linh hoạt, hài hòa

- Theo ông, mô hình này có giúp Hà Nội giải quyết ùn tắc, quá tải hạ tầng, ô nhiễm hay chênh lệch vùng lõi – vùng ven không?

- Hiện nay, quá trình đô thị hóa của Hà Nội mới đạt khoảng 50%, trong khi các lĩnh vực khác phát triển chưa đồng bộ, dẫn đến nhiều điểm nghẽn. Thành phố đang đối mặt với các thách thức như ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, ngập úng, quá tải hạ tầng kỹ thuật.

Trong bối cảnh đó, mô hình chùm đô thị nếu triển khai không tốt cũng có thể tạo thêm điểm tắc. Để hình thành đô thị, trước đây đã có 5 nhóm tiêu chí như vị trí, hạ tầng kỹ thuật, lao động, quản lý đô thị…còn gần đây được điều chỉnh còn 3 nhóm tiêu chí.

Một vấn đề lớn là gia tăng dân số rất nhanh. Hà Nội là điểm thu hút dân cư trong vùng và lao động, tạo động lực phát triển kinh tế nhưng cũng gây áp lực lớn lên hạ tầng. Trước đây, quy hoạch dự báo đến 2030 khoảng 9,2 triệu dân, nhưng đến 2025 đã hơn 9 triệu dân. Dự báo mới cho thấy đến 2030 có thể lên khoảng 12 triệu, đến 2045 khoảng 15–16 triệu và đến 2065 khoảng 17–19 triệu dân.

Với tốc độ tăng dân số như vậy, việc tổ chức đô thị theo mô hình đa cực, đa trung tâm là cần thiết để giảm phụ thuộc vào khu vực trung tâm, hạn chế áp lực giao thông và giảm chênh lệch giữa các khu vực. Mô hình này có thể góp phần giảm ùn tắc, cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng sống và việc làm.

Tuy nhiên, không phải cứ phát triển đa cực là giải quyết được hết các điểm nghẽn. Do vẫn nằm trong một đơn vị hành chính, cần đồng thời chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng kỹ thuật và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là những điều kiện phải đi cùng để mô hình này phát huy hiệu quả, góp phần giảm áp lực và các điểm nghẽn hiện nay.

- Quy hoạch đặt trọng tâm phát triển đô thị theo giao thông công cộng (TOD). Nếu mở rộng đô thị quanh metro, thách thức lớn nhất là gì?

- Một trong những điểm nghẽn hiện nay là tỷ lệ người dân sử dụng giao thông công cộng còn thấp, trong khi hệ thống chưa đáp ứng được yêu cầu. Từ những năm 2000, khi triển khai quy hoạch, chúng tôi đã khảo sát nhiều nước châu Âu và nhận thấy muốn giải quyết căn bản giao thông đô thị thì phải phát triển giao thông công cộng, chú trọng đường sắt đô thị.

Qua kinh nghiệm quốc tế, có nơi chỉ phát triển tàu điện ngầm, có nơi phát triển trên cao. Với điều kiện địa chất, thủy văn và phân bố dân cư của Hà Nội, được lựa chọn mô hình kết hợp cả ngầm và nổi. Đây cũng là cơ sở của mô hình phát triển đô thị theo TOD.

anh-1-5763.jpg
Hà Nội có thuận lợi về hành lang pháp lý với các nghị quyết và Luật Thủ đô sửa đổi.

Định hướng TOD đã được đặt ra trong nhiều nghị quyết và tiếp tục được khẳng định trong quy hoạch lần này. Đây là hướng đi đúng, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, cần nhận thức đầy đủ về mô hình này.

Trên thế giới, TOD thường được phân theo nhiều cấp độ, gắn với các tuyến, khu vực và điểm. Về nguyên tắc, TOD là các khu dân cư tập trung quanh nhà ga, với bán kính phục vụ khoảng 400–800 m, tương đương 5–10 phút đi bộ, có thể đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, thương mại, dịch vụ.

Thực tế, Việt Nam đã nghiên cứu mô hình này từ sớm nhưng triển khai còn khó khăn. Một số khu vực như sau ga Hàng Cỏ hay ga Giáp Bát từng được đề xuất phát triển theo TOD nhưng chưa thực hiện được, do hạn chế về nguồn lực và vướng mắc trong giải phóng mặt bằng.

Vì vậy, thách thức không chỉ là vốn hay cơ chế, mà còn là cách lựa chọn mô hình TOD phù hợp với từng khu vực. Đặc biệt, tại Hà Nội, nhiều vị trí dự kiến phát triển TOD lại gắn với di tích lịch sử, khu dân cư có giá trị, nên phải đồng thời đặt ra yêu cầu bảo tồn và phát huy.

Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu kỹ các loại hình TOD và áp dụng linh hoạt, hài hòa giữa phát triển đô thị, giải quyết các điểm nghẽn và bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử.

img-6529.jpg
Bản đồ dự thảo bố trí phân cấp, phân cấp TOD

- Hà Nội có thể học gì từ quốc tế về TOD?

- Mỗi quốc gia có một cách ứng dụng mô hình TOD khác nhau. Ví dụ, ở Liên Xô trước đây, hệ thống tàu điện ngầm không chỉ phục vụ giao thông mà còn là công trình văn hóa. Trong khi đó, Nhật Bản là nơi ứng dụng TOD rất mạnh, với nhiều cấp độ khác nhau, đồng thời chú trọng giãn dân và phân bổ lại dân cư.

Tại Nhật Bản, ở những khu vực mật độ cao, họ phát triển thêm các đô thị xung quanh theo hướng đô thị xanh, nâng cao chất lượng sống, đặc biệt phù hợp với xã hội già hóa dân số. Người cao tuổi được khuyến khích chuyển ra các khu vực này bằng các chính sách phù hợp, trong khi khu trung tâm dành cho hoạt động sản xuất, kinh tế.

Ở Hồng Kông, mô hình đô thị nén kết hợp với đường sắt đã mang lại hiệu quả cao, vừa tạo nguồn thu cho giao thông, vừa giúp giảm chi phí sinh hoạt cho người dân.

Hà Nội không thể áp dụng nguyên mẫu một mô hình nào, mà cần nghiên cứu đồng bộ để rút ra bài học và xây dựng mô hình phù hợp riêng. Ví dụ, cần xác định phát triển nhà cao tầng đến mức nào, liên kết với hệ thống đường sắt đô thị ra sao, tổ chức giao thông phụ trợ như đi bộ, xe đạp như thế nào trong bán kính 400–800 m của TOD.

Mỗi nước có một cách làm khác nhau, nhưng với Hà Nội, việc áp dụng cần linh hoạt, sáng tạo song có bản sắc, phù hợp với đặc thù của một đô thị có lịch sử hơn 1.000 năm phát triển.

- Nếu phải chọn một ưu tiên chiến lược trong giai đoạn đầu triển khai quy hoạch, ông sẽ đề xuất nội dung nào?

- Với quy hoạch lần này, ưu tiên đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý để triển khai. Thực tế, nhiều quy hoạch trước đây đã được phê duyệt nhưng vướng ở khâu kế hoạch và tiến độ thực hiện. Vì vậy, cần cụ thể hóa quy hoạch thành các chương trình, kế hoạch theo từng giai đoạn như 2030, 2045, 2065… tránh dàn trải khi nguồn lực còn hạn chế. Hiện nay, Hà Nội có thuận lợi về hành lang pháp lý với các nghị quyết và Luật Thủ đô sửa đổi, trong đó có hơn 100 chính sách đặc thù.

Ưu tiên thứ hai là phát triển hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông đô thị. Nhiều năm qua mới hoàn thành được hai tuyến đường sắt đô thị, trong khi quy hoạch tới đây có tới 18 tuyến, đòi hỏi phải có lộ trình, huy động nguồn lực và thứ tự ưu tiên rõ ràng.

Thứ ba là nguồn vốn đầu tư. Không thể chỉ dựa vào ngân sách Nhà nước mà cần huy động nguồn lực xã hội hóa, đi kèm các cơ chế, chính sách phù hợp.

Bên cạnh đó, cần ưu tiên vấn đề bảo vệ môi trường, không chỉ xử lý hiện trạng mà còn phải thích ứng với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển.

Một nội dung quan trọng khác là nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát quy hoạch. Hà Nội đã qua nhiều lần quy hoạch nhưng không ít mục tiêu chưa thực hiện được. Vì vậy, cần lựa chọn mục tiêu phù hợp theo từng giai đoạn, đồng thời nâng cao năng lực cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở, trong bối cảnh phân cấp mạnh hiện nay.

Cuối cùng, cần có chính sách đặc thù về đất đai và tổ chức không gian, như di dời trụ sở, cơ sở công nghiệp, sử dụng lại quỹ đất sau di dời cho mục đích công cộng, không gian xanh, thay vì khai thác thương mại đơn thuần.

- Việc đề xuất sân bay thứ hai ở phía Nam Hà Nội sẽ tác động thế nào tới bản đồ kinh tế – logistics vùng Thủ đô, trong bối cảnh sân bay Gia Bình cũng đang triển khai?

- Đề xuất sân bay thứ hai ở phía Nam Hà Nội không phải mới, mà đã được đặt ra từ trước, nhưng do cân đối tổng thể nên chưa được phê duyệt và dự kiến sau năm 2030 mới tính đến.

Hiện nay, Hà Nội giữ vai trò Thủ đô của cả nước và trung tâm Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng Thủ đô, nên áp lực về hàng không là rất lớn. Việc phát triển hàng không không chỉ phục vụ du lịch mà còn gắn với phát triển kinh tế tổng thể.

Trước đây, khi triển khai sân bay Nội Bài chúng tôi đã từng đặt vấn đề mở rộng, nhưng chưa đủ điều kiện thực hiện. Trong hệ thống sân bay hiện nay còn có các sân bay quân sự như Miếu Môn, hay sân bay quy mô nhỏ như Gia Lâm, nhưng không thể thay thế vai trò của một sân bay quốc tế quy mô lớn.

Trong bối cảnh đó, việc triển khai sân bay Gia Bình giúp tăng khả năng kết nối, giảm áp lực trước mắt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu xây dựng sân bay thứ hai vẫn là cần thiết, song cần sớm có kế hoạch thực hiện nhằm phục vụ phát triển logistics, tăng liên kết vùng và đáp ứng vai trò của Thủ đô.

Trước mắt, cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông để kết nối hiệu quả với các sân bay hiện có và các khu vực trong vùng. Về lâu dài, với quy mô và vai trò của Hà Nội, việc có thêm một sân bay thứ hai là yêu cầu tất yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển.

Phát triển đồng bộ hạ tầng ngầm, hạ tầng xã hội dưới lòng đất

- Ở góc độ chuyên môn, ông cho rằng dự thảo hiện nay còn những điểm nào cần làm rõ hơn hoặc điều chỉnh để bảo đảm tính khả thi dài hạn, nhất là với tầm nhìn kéo dài đến 100 năm?

- Quy hoạch lần này đang được xây dựng khá nghiêm túc và cụ thể hóa các định hướng trong nghị quyết luật, bám sát nhiệm vụ thiết kế đã được phê duyệt. Tôi cho rằng các nội dung cơ bản đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ, khoa học.

Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần tiếp tục làm rõ. Đây là quy hoạch tích hợp đa ngành, vì vậy phải có nghiên cứu đồng bộ để xác định thứ tự ưu tiên hợp lý. Thành phố cũng đã đặt ra khoảng 30 bài toán lớn, mời các chuyên gia tham gia tìm lời giải – điều đó cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Điều quan trọng nhất, theo tôi, là phải có nhận thức xuyên suốt trong toàn bộ quy hoạch, đặc biệt với tầm nhìn 100 năm, đó là văn hiến – bản sắc – sáng tạo của Hà Nội.

061-sdd-2045-truc-tuyen-1773680064519.jpg
Hà Nội muốn định hướng phát triển không gian tại 12 khu vực.

Với yếu tố văn hiến, cần xác định rõ cái gì phải ưu tiên, cái gì cần bảo tồn. Hà Nội có gần 1.600 di tích và khoảng 2.700 di sản phi vật thể, nên việc giữ gìn bản sắc trong không gian là rất quan trọng. Thực tế đã có những bất cập trong bảo tồn, như việc thay thế vật liệu truyền thống ở một số khu vực, hay cách tiếp cận chưa đầy đủ với giá trị của phố cổ – nơi không chỉ có giá trị từng ngôi nhà mà còn là giá trị của cấu trúc quy hoạch.

Bên cạnh đó là yếu tố sáng tạo. Văn hiến và bản sắc là nền tảng, nhưng để tạo sức cạnh tranh, Hà Nội cần thúc đẩy sáng tạo một cách đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, không chỉ trong văn hóa mà cả ẩm thực, âm nhạc và các ngành khác.

Do đó, cần tiếp tục nhận diện rõ hơn và xuyên suốt ba trụ cột “văn hiến – bản sắc – sáng tạo” trong toàn bộ quy hoạch. Chỉ khi làm được điều này, Hà Nội mới có thể đạt được tầm vóc tương xứng với định hướng phát triển 100 năm.

- Với quy hoạch 100 năm của Hà Nội, nên “ứng xử” thế nào với vùng lõi đô thị cũ: bảo tồn, cải tạo hay tái thiết?

- Định hướng xuyên suốt trong quy hoạch là đảm bảo hài hòa giữa văn hiến, bản sắc và sáng tạo.

Văn hiến là nhìn nhận đầy đủ giá trị lịch sử, truyền thống của khu lõi đô thị. Bản sắc là giữ lại những yếu tố đặc thù, tạo nên sự khác biệt và sức cạnh tranh của đô thị. Còn sáng tạo là cách thức làm mới không gian, nhưng phải trong giới hạn, không làm phá vỡ cấu trúc và giá trị cốt lõi.

Vì vậy, với khu vực trung tâm, không đặt vấn đề can thiệp mạnh hay tái thiết toàn diện, mà là chỉnh trang. Những định hướng này đã được xác lập ở quy hoạch tầm nhìn 100 năm, còn việc cụ thể hóa sẽ do các cấp quy hoạch chi tiết hơn triển khai trong thời gian tới.

Trong bối cảnh phân cấp hiện nay, chính quyền cấp cơ sở sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, nguyên tắc xuyên suốt vẫn là giữ gìn yếu tố văn hiến và bản sắc, đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế.

Cái giá phải trả nếu can thiệp sâu vào vùng lõi là rất lớn, không chỉ về chi phí mà còn là nguy cơ mất đi các giá trị lịch sử – văn hóa không thể phục hồi. Vì vậy, quan điểm của tôi là lấy người dân làm gốc phát triển theo hướng thích ứng, từng bước và có kiểm soát.

img-6530.jpg
Lộ trình 100 năm mở rộng không gian ngầm

- Quy hoạch Hà Nội lâu nay chủ yếu trên mặt đất, còn hạ tầng ngầm thiếu đồng bộ. Theo ông, nếu không giải quyết hạ tầng ngầm, hệ lụy dài hạn sẽ ra sao?

- Thực tế, Hà Nội đã đặt vấn đề quy hoạch không gian ngầm từ khá sớm. Sau quy hoạch chung được duyệt năm 2011, đến năm 2022, Hà Nội là địa phương đầu tiên xây dựng quy hoạch tổ chức không gian ngầm, trong đó đã đưa ra định hướng đa mục đích và giải pháp cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật như đường ống, cấp thoát nước.

Tuy nhiên, việc triển khai còn hạn chế và thiếu đồng bộ. Nếu không giải quyết triệt để, hệ lụy sẽ rất rõ: hạ tầng kỹ thuật tiếp tục chồng chéo, tình trạng đào đường, úng ngập, ô nhiễm môi trường đô thị sẽ kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống và chi phí vận hành đô thị.

Trong quy hoạch tầm nhìn 100 năm, vấn đề đặt ra là phải khai thác không gian ngầm một cách đồng bộ, hài hòa với không gian mặt đất và không gian trên cao. Trước đây, chúng ta mới chỉ định hướng khai thác ở độ sâu khoảng 15 m, trong khi nhiều nước như Nhật Bản đã phát triển không gian ngầm rất sâu và hiệu quả.

Vì vậy, Hà Nội cần tiếp cận theo hướng khoa học hơn, xác định rõ từng khu vực, từng cấp độ khai thác. Không chỉ là giao thông ngầm, mà phải phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đồng thời tính đến cả các công trình dịch vụ, thương mại và hạ tầng xã hội dưới lòng đất.

Với các khu đô thị mới, cần đặt ra ngay từ đầu các điều kiện xây dựng đồng bộ, đặc biệt về hạ tầng ngầm, để tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu như hiện nay. Khi có quy chuẩn rõ ràng và triển khai nhất quán, các khu đô thị mới mới có thể phát triển bền vững trong dài hạn. Sắp tới sau quy hoạch tầm nhìn 100 năm sẽ có những quy chuẩn cụ thể hơn.

Xã hội số

Khi AI vào cuộc: Lời giải cho bài toán chăm sóc người cao tuổi

AI giải bài toán chăm sóc người cao tuổi

Trong bối cảnh dân số già hóa nhanh, Bệnh viện Hữu Nghị đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và theo dõi từ xa để quản lý toàn diện người bệnh cao tuổi.