Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đưa ra những dự báo về những bước ngoặt quan trọng của Việt Nam và thế giới, từ ngày giành độc lập, đất nước thống nhất đến những diễn biến lớn của cục diện quốc tế. Đằng sau những dự báo ấy là tư duy biện chứng, nhãn quan chính trị nhạy bén, sự am hiểu lịch sử, văn hóa và khả năng khái quát, tổng kết thực tiễn sâu sắc.
Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần thể hiện niềm tin chắc chắn vào ngày đất nước độc lập, thống nhất. Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Người vẫn nhắc nhở rằng thắng lợi mới chỉ là bước đầu. Và khi cuộc kháng chiến chống Mỹ còn chưa kết thúc, Người đã nghĩ đến những công việc phải làm để xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.
Trong bản Di chúc đầu tiên viết năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!
Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc".
Bốn năm sau, ngày 10/5/1969, trong bản Di chúc sửa chữa, Người tiếp tục khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.
Đó là một điều chắc chắn”.
Sáu năm sau, mùa Xuân 1975, những điều Người khẳng định đã trở thành hiện thực. Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, đồng bào Nam - Bắc sum họp một nhà.
Nhưng tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở ngày chiến thắng. Trong phần Di chúc bổ sung năm 1968, Người đã nghĩ đến những công việc phải làm sau chiến tranh:
“Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại Thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế, phát triển công tác vệ sinh y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân...”
Những dòng viết ấy cho thấy, trong khi cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướng tầm nhìn tới chặng đường phía trước: xây dựng lại thành phố, làng mạc, khôi phục kinh tế, chăm lo giáo dục, y tế và hàn gắn những mất mát sau chiến tranh.
Nếu Di chúc cho thấy niềm tin chắc chắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày đất nước thống nhất, thì những dự báo trước đó cho thấy Người không chỉ nhìn thấy đích đến mà còn nhận diện cả những thử thách trên con đường đi tới thắng lợi.
Khoảng nửa cuối năm 1941, sau khi trở về Pác Bó, Người viết tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’, một tập diễn ca lịch sử dân tộc ta từ trước Công nguyên đến năm 1942. Ở phần cuối tác phẩm, Người ghi mốc: 1945: Việt Nam độc lập.
Khi ấy, Việt Nam vẫn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật đang mở rộng chiến tranh, còn con đường giành độc lập chưa hề dễ dàng. Nhưng đúng năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Bốn năm sau khi câu thơ được viết, “Việt Nam độc lập - 1945” trở thành lịch sử. Đằng sau một câu thơ tưởng như đơn giản ấy là sự lựa chọn một thời điểm dựa trên khả năng phân tích tình hình, nhận định tương quan lực lượng và nhìn thấy xu hướng vận động của thời cuộc.
Một trong những điều đáng chú ý nhất trong những dự báo của Hồ Chí Minh là Người không bao giờ nhìn chiến thắng một cách đơn giản.
Năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Người viết trong bài thơ chúc Tết: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi/Độc lập thống nhất, nhất định thành công”. Chỉ vài tháng sau, chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, buộc thực dân Pháp phải chấp nhận thất bại và ký Hiệp định Genève.
Nhưng ngay khi chiến thắng còn đang ở thời khắc rực rỡ nhất, Hồ Chí Minh đã nhìn xa hơn. Trong thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc ngày 8/5/1954, Người đã căn dặn: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa II (7/1954), Người tiếp tục nhấn mạnh: “Đế quốc Mỹ thì đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp, mũi nhọn của ta phải chĩa vào đế quốc Mỹ”.
Thời gian này, đế quốc Mỹ vừa bị tổn thất nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, ít ai nghĩ rằng Mỹ lại tiến hành ngay chiến tranh xâm lược Việt Nam. Song, lịch sử đã diễn ra như Người dự báo.
Một trong những dự báo nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh liên quan đến cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ. Từ đầu những năm 1960, Người đã dự báo khả năng Mỹ đưa không quân, trong đó có B52, đánh phá miền Bắc và yêu cầu chuẩn bị phương án đối phó.
Chiều 19/7/1967, Bác Hồ đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân và dặn: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay bê gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.
Điều đáng nói là lời cảnh báo ấy được đưa ra từ nhiều năm trước khi cuộc tập kích B52 quy mô lớn vào Hà Nội thực sự diễn ra. Cuối năm 1972, Mỹ mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn vào miền Bắc.
Nhưng cuộc tập kích không tạo ra yếu tố bất ngờ tuyệt đối như phía Mỹ kỳ vọng. Quân và dân miền Bắc đã có quá trình chuẩn bị, nghiên cứu cách đánh và xây dựng lực lượng phòng không từ trước.
12 ngày đêm cuối năm 1972 sau đó trở thành một dấu mốc đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” góp phần tạo bước chuyển quan trọng, buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris năm 1973. Hai năm sau, mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất.
Từ dự báo nguy cơ đến chuẩn bị lực lượng, rồi biến sự chủ động thành thắng lợi, những sự kiện ấy cho thấy dự báo của Hồ Chí Minh luôn gắn với hành động thực tiễn.
Không chỉ nhìn xa về tương lai của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sớm nhận diện những biến động lớn của thời cuộc quốc tế, từ nguy cơ bùng nổ các cuộc chiến tranh thế giới đến những thay đổi trong cục diện chính trị toàn cầu.
Tháng 8/1914, khi đang ở nước Anh, trong một bức thư gửi cụ Phan Châu Trinh, Người đã tiên đoán Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) sắp nổ ra: “Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng, cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động".
Năm 1924, trong bài “Đông Dương và Thái Bình Dương”, Người dự báo về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ: “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó”; “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh".
Đến năm 1941, Người tiếp tục dự báo rằng nếu Chiến tranh thế giới thứ nhất dẫn đến sự ra đời của Liên Xô, thì Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ dẫn tới sự ra đời của nhiều nước xã hội chủ nghĩa và cách mạng ở nhiều nước sẽ thành công.
Năm 1945, phát xít Đức thất bại. Liên Xô cùng lực lượng Đồng Minh đánh bại chủ nghĩa phát xít ở châu Âu; một loạt nước Đông Âu sau đó đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành với Liên Xô là một trụ cột.
Những dự báo ấy cho thấy Hồ Chí Minh không chỉ theo dõi những gì đang xảy ra tại Việt Nam. Người đặt cách mạng Việt Nam trong dòng chảy rộng lớn của lịch sử thế giới, từ đó nhận diện những khả năng có thể tác động đến vận mệnh dân tộc.
Những lời tiên đoán của Hồ Chí Minh không phải là “sấm truyền”, mà là năng lực phân tích hiện thực, khả năng nhìn thấy xu hướng phát triển từ những dấu hiệu còn rất nhỏ. Và quan trọng hơn, đó là tầm nhìn luôn gắn dự báo với hành động.