Danh mục này gồm 252 bệnh, nhóm bệnh, thuộc 16 nhóm lớn như bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng, bệnh máu, rối loạn tâm thần, nội tiết, dinh dưỡng và rối loạn chuyển hóa.
Đây là thay đổi mang tính đột phá, tháo gỡ những bất tiện kéo dài nhiều năm trong điều trị ngoại trú, đặc biệt với người bệnh mạn tính phải dùng thuốc lâu dài, thậm chí suốt đời.
Hàng loạt bệnh nhân mạn tính, bệnh nặng được hưởng lợi
Danh sách các bệnh được kê đơn BHYT tối đa 90 ngày tập trung vào những bệnh lý điều trị kéo dài, ít thay đổi phác đồ trong thời gian ngắn. Trong đó có nhóm ung thư phổ biến như ung thư vú, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ung thư tuyến giáp; nhóm bệnh huyết học như thalassemia, bệnh hồng cầu hình liềm, các thể thiếu máu tan máu, suy tuỷ xương, hemophilia.
Nhóm nội tiết – chuyển hoá chiếm tỷ trọng lớn với đái tháo đường, suy giáp sau điều trị, rối loạn tuyến yên, bệnh Wilson, rối loạn chuyển hoá sắt, rối loạn điện giải, các bệnh lý tuyến thượng thận. Đây đều là những bệnh mạn tính, điều trị chủ yếu ngoại trú, đòi hỏi dùng thuốc đều đặn và theo dõi định kỳ.
Đặc biệt, nhóm rối loạn tâm thần và hành vi được bao phủ khá toàn diện, từ tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc, rối loạn hoang tưởng, rối loạn cảm xúc lưỡng cực đến trầm cảm, rối loạn lo âu, stress.
Việc cấp thuốc dài ngày được xem là yếu tố quan trọng giúp duy trì điều trị liên tục, hạn chế tái phát và nhập viện.
Với các bệnh lý cơ xương khớp và mô liên kết như lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, gút, thoái hóa khớp hay loãng xương, điều trị thường kéo dài nhiều năm và ít biến động phác đồ trong thời gian ngắn.
Tương tự, nhóm bệnh thận mạn như viêm thận lupus, hội chứng thận hư, suy thận mạn, sỏi thận hoặc rối loạn chức năng ống thận cần duy trì thuốc ổn định để kiểm soát tiến triển bệnh.
Lợi ích cho cả bệnh nhân, hệ thống y tế và quỹ BHYT
Việc cho phép kê đơn 90 ngày giúp người bệnh giảm đáng kể số lần đi khám chỉ để lĩnh thuốc. Chính sách này đặc biệt có ý nghĩa với người cao tuổi, người ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật hoặc gặp khó khăn trong đi lại, khi chi phí gián tiếp như đi lại, ăn ở, nghỉ làm đôi khi còn lớn hơn tiền thuốc, đồng thời, tạo áp lực không nhỏ lên hệ thống khám chữa bệnh.
Ở góc độ quản lý, kéo dài thời gian kê đơn góp phần giảm quá tải tại các cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là tuyến trên. Khi người bệnh ổn định được quản lý ngoại trú dài ngày, bác sĩ có thêm thời gian tập trung cho các ca bệnh cấp tính, bệnh nặng và phức tạp.
Các chuyên gia cho rằng, nếu được thực hiện đúng hướng dẫn, chính sách này sẽ giúp sử dụng quỹ BHYT hiệu quả hơn, giảm những lượt khám không cần thiết.
Chính sách đã có, không phải nơi nào cũng làm
Tuy nhiên, trong khi nhiều bệnh viện đã thực hiện, thì vẫn có không ít bệnh viện chỉ kê đơn 30 ngày, thậm chí yêu cầu người bệnh tái khám hàng tháng, dù bệnh đã ổn định và nằm trong danh mục được phép kê dài ngày.
Thực trạng này khiến nhiều người bệnh bức xúc, khi không được thụ hưởng đầy đủ quyền lợi. Vì thế, Bộ Y tế đã vừa phải chấn chỉnh, yêu cầu các cơ sở khám, chữa bệnh nghiêm túc thực hiện đúng quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tham gia BHYT.
Theo giới chuyên môn, nếu việc triển khai tiếp tục chậm trễ hoặc không thống nhất, ý nghĩa nhân văn của chính sách sẽ bị giảm sút, mục tiêu giảm quá tải và quản lý bệnh mạn tính khó đạt được. Khi đó, người chịu thiệt trước hết vẫn là người bệnh.
Các nhóm bệnh chính được kê đơn thuốc BHYT tối đa 90 ngày:
1. Bệnh ung thư (bướu tân sinh)
Ung thư vú; ung thư phổi không phải tế bào nhỏ; ung thư tuyến giáp.
2. Bệnh huyết học và rối loạn miễn dịch
Thalassemia; bệnh hồng cầu hình liềm; các thể thiếu máu tan máu di truyền và mắc phải; suy tuỷ xương; hemophilia A, B; tăng tiểu cầu tiên phát; hội chứng thực bào tế bào máu.
3. Bệnh nội tiết – chuyển hoá
Đái tháo đường; suy giáp sau điều trị; rối loạn tuyến yên; bệnh Wilson; rối loạn chuyển hoá sắt; thoái hoá dạng bột; rối loạn điện giải, giảm kali máu; các bệnh lý tuyến thượng thận và dậy thì sớm.
4. Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
Lupus ban đỏ hệ thống; viêm khớp dạng thấp; viêm cột sống dính khớp; gút; thoái hoá khớp; loãng xương.
5. Bệnh thận mạn tính
Viêm thận lupus; hội chứng thận hư; suy thận mạn; sỏi thận; rối loạn chức năng ống thận.
6. Rối loạn tâm thần và hành vi
Tâm thần phân liệt; rối loạn phân liệt cảm xúc; rối loạn hoang tưởng; rối loạn cảm xúc lưỡng cực; trầm cảm; rối loạn lo âu, stress; rối loạn ám ảnh – cưỡng bức; rối loạn nhân cách.
Độc giả có thể xem chi tiết danh sách 252 bệnh, nhóm bệnh thuộc phạm vi được phép kê đơn thuốc ngoại trú trên 30 ngày, ban hành kèm theo Thông tư số 26/2025/TT-BYT của Bộ Y tế tại đây.