close Đăng nhập

Chuyên gia hiến kế để khoa học cơ bản trở thành động lực công nghệ Việt

Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, muốn làm chủ công nghệ lõi và tạo động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản với tầm nhìn nhiều thập kỷ.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Phát biểu tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản khi triển khai Nghị quyết 57. Theo Tổng Bí thư, đây là nền tảng cốt lõi để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Trao đổi với VietTimes, PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), cho rằng việc người đứng đầu Đảng, Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu khoa học cơ bản cho thấy lĩnh vực này đang được đặt trở lại đúng vị trí trong chiến lược phát triển đất nước.

kh-17528278211061478554957.png
Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản thực chất là đầu tư cho khả năng tự tạo ra tri thức, tự hấp thụ công nghệ, tự cải tiến và tiến tới tự sáng tạo công nghệ. Ảnh: VGP.

Theo ông Hoàng, trong nhiều năm qua, Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Mô hình này giúp nền kinh tế hội nhập nhanh vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải củng cố mạnh mẽ hơn nền tảng khoa học cơ bản để đáp ứng giai đoạn phát triển mới.

"Khoa học cơ bản là lĩnh vực có đặc thù đầu tư dài hạn. Nhiều nghiên cứu phải mất hàng chục năm mới tạo ra giá trị ứng dụng, trong khi các cơ chế quản lý và đánh giá kết quả thường chịu áp lực từ những mục tiêu ngắn hạn", ông Hoàng nói.

Theo chuyên gia này, năng lực nghiên cứu cơ bản vẫn còn nhiều dư địa để phát triển, nhiều phòng thí nghiệm chưa được đầu tư đồng bộ, liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn hạn chế. Không ít kết quả nghiên cứu vẫn dừng ở các công bố khoa học thay vì được chuyển hóa thành sản phẩm phục vụ sản xuất và đời sống.

Khoa học cơ bản là nền tảng của năng lực tự chủ quốc gia

PGS.TS Đinh Công Hoàng cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học cơ bản không còn đơn thuần là hoạt động học thuật mà đã trở thành một bộ phận cấu thành năng lực tự chủ quốc gia.

"Quốc gia nào làm chủ được tri thức nền tảng sẽ có khả năng làm chủ công nghệ lõi, dữ liệu, bằng sáng chế và các chuỗi giá trị mới. Ngược lại, nếu chỉ nhập khẩu công nghệ hoặc gia công theo thiết kế của nước ngoài, nền kinh tế sẽ luôn ở vị thế phụ thuộc và dễ tổn thương trước các biến động bên ngoài", ông nhận định.

Theo ông, hầu hết các lĩnh vực công nghệ đang dẫn dắt cuộc cách mạng công nghiệp hiện nay đều được xây dựng trên nền tảng khoa học cơ bản. Trí tuệ nhân tạo dựa trên toán học, thống kê và khoa học máy tính; ngành bán dẫn dựa trên vật lý, hóa học và khoa học vật liệu; công nghệ sinh học dựa trên sinh học phân tử và di truyền học; còn năng lượng mới đòi hỏi các nghiên cứu sâu về vật liệu và điện hóa.

Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản thực chất là đầu tư cho khả năng tự tạo ra tri thức, tự hấp thụ công nghệ, tự cải tiến và tiến tới tự sáng tạo công nghệ.

anh-1-184.jpg
PGS.TS Đinh Công Hoàng. Ảnh: NVCC.

Theo ông Hoàng, mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ từng giúp Việt Nam hội nhập nhanh vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, dư địa của mô hình này đang dần thu hẹp khi chi phí lao động tăng, dân số bước vào giai đoạn già hóa và các yêu cầu về xanh hóa, số hóa ngày càng khắt khe.

Trong bối cảnh đó, động lực tăng trưởng mới phải đến từ năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Nghiên cứu khoa học cơ bản có thể góp phần hình thành các ngành công nghiệp dựa trên tri thức như vật liệu mới, chip chuyên dụng, công nghệ sinh học, pin lưu trữ năng lượng, trí tuệ nhân tạo tiếng Việt và dữ liệu lớn.

Bên cạnh đó, khoa học cơ bản còn giúp nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thiếu nền tảng khoa học và kỹ thuật dù nhập khẩu dây chuyền hiện đại cũng khó cải tiến công nghệ hoặc tạo ra sở hữu trí tuệ riêng.

Quan trọng hơn, nghiên cứu cơ bản là nền tảng để đào tạo đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia vật liệu và công nghệ sinh học - lực lượng quyết định khả năng tham gia các khâu nghiên cứu, thiết kế và sở hữu công nghệ trong tương lai.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, việc tăng cường đầu tư cho khoa học cơ bản là câu chuyện dài hạn và không thể kỳ vọng tạo ra chuyển biến ngay trong thời gian ngắn.

"Nếu nhiều năm chưa đầu tư đúng mức thì cũng không thể chỉ trong vài năm tạo ra sự thay đổi căn bản. Đây là quá trình đòi hỏi sự kiên trì, liên tục và ổn định trong nhiều thập kỷ", ông nói.

Theo ông Hoàng, khoa học cơ bản là lĩnh vực có độ trễ rất lớn. Một khoản đầu tư hôm nay có thể phải sau 10-20 năm mới chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm hoặc ngành công nghiệp mới. Vì vậy, thành công của Nghị quyết 57 không nên chỉ được đánh giá bằng những kết quả ngắn hạn mà cần được nhìn nhận trong tầm nhìn nhiều thập kỷ.

Ông dẫn kinh nghiệm của Israel, Hàn Quốc hay Trung Quốc cho thấy các quốc gia này đều mất hàng chục năm đầu tư bền bỉ cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển trước khi hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao có khả năng cạnh tranh toàn cầu.

Bài học quan trọng nhất không nằm ở việc chi nhiều tiền hơn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), mà ở việc biến khoa học công nghệ thành chiến lược quốc gia dài hạn, có cơ chế tài chính đủ mạnh, doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo.

"Israel thành công nhờ hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp, quỹ đầu tư và các tập đoàn công nghệ. Hàn Quốc kiên trì đầu tư cho giáo dục, R&D doanh nghiệp và công nghiệp hỗ trợ. Trung Quốc kết hợp hiệu quả quy mô thị trường lớn, đầu tư công mạnh, chính sách công nghiệp trọng tâm và phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật", PGS.TS Đinh Công Hoàng phân tích.

Làm gì để khoa học cơ bản trở thành động lực phát triển?

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu chi khoảng 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu và phát triển vào năm 2030. Tuy nhiên, theo ông Hoàng, điều quan trọng không chỉ là tăng quy mô nguồn lực mà còn phải nâng cao hiệu quả phân bổ.

Ông đề xuất khoảng 25-30% tổng ngân sách R&D nên dành cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu nền tảng tại các viện nghiên cứu, trường đại học và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; 35-40% dành cho các chương trình công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến.

Phần còn lại cần được sử dụng để thúc đẩy cơ chế đồng tài trợ với doanh nghiệp, đầu tư hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm dùng chung, đào tạo nhân lực chất lượng cao, thu hút chuyên gia quốc tế và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Theo ông Hoàng, bên cạnh nguồn lực tài chính, Việt Nam cần sớm tháo gỡ những điểm nghẽn trong liên kết viện - trường - doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến sở hữu trí tuệ, định giá kết quả nghiên cứu và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Ông cũng cho rằng Việt Nam không thể cùng lúc dẫn đầu mọi lĩnh vực công nghệ. Thay vào đó, cần tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có lợi thế về thị trường, nhân lực và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu như AI tiếng Việt, dữ liệu Việt Nam, thiết kế chip chuyên dụng, công nghệ sinh học nông nghiệp - y sinh, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến.

anh-1.jpg
PGS.TS Đinh Công Hoàng, viết cuốn sách "Mô hình Hệ sinh thái công nghiệp 4.0 của Israel và gợi mở cho Việt Nam năm. Ảnh: NVCC.

Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải tạo được bước nhảy vọt về năng suất, công nghệ, chất lượng thể chế và năng lực đổi mới sáng tạo.

Điều đó đòi hỏi đầu tư R&D đủ lớn, ổn định và dài hạn; xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao; phát triển các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực nghiên cứu và sở hữu sáng chế riêng; đồng thời hoàn thiện thể chế đổi mới sáng tạo theo hướng chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, cải cách mua sắm công và phát triển thị trường công nghệ.

"Muốn trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải xây dựng được nền kinh tế dựa trên tri thức Việt Nam, công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và năng lực đổi mới sáng tạo của người Việt Nam", ông Hoàng nhấn mạnh.

Xã hội số

Vietjet và Tổng cục Du lịch Thái Lan hợp tác quảng bá hàng không, du lịch

Vietjet và Tổng cục Du lịch Thái Lan hợp tác quảng bá hàng không, du lịch

Vietjet và Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm thúc đẩy du lịch, tăng cường kết nối hàng không và giao lưu văn hoá quốc tế. Sự kiện ký kết diễn ra trước sự chứng kiến của Phó Thủ tướng Suphajee Suthumpun và Bộ trưởng Du lịch và Thể thao Surasak Phancharoenworakul của Vương quốc Thái Lan.