close Đăng nhập
Ba việc cần làm ngay để khoa học công nghệ phát triển

Ba việc cần làm ngay để khoa học công nghệ phát triển

“Mặc dù tư duy phát triển khoa học công nghệ đã chuyển trục căn bản từ quản lý sang kiến tạo sau một năm triển khai Nghị quyết 57, song những rào cản về thể chế và cơ chế thực thi vẫn khiến dòng chảy đổi mới chưa thông suốt”.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Tóm tắt bài viết

/
Nguyên Bộ trưởng KHCN Nguyễn Quân cho rằng, cần đổi mới thể chế và tư duy quản lý để đáp ứng yêu cầu đột phá của thực tiễn theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
Năm 2026, các cơ quan quản lý cần khẩn trương thành lập và vận hành các quỹ phát triển KHCN theo đúng cơ chế quỹ, cấp kinh phí trước theo mức vốn điều lệ từ ngân sách nhà nước.
Các địa phương cần thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm để thu hút nguồn lực xã hội cho khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 thu hút 2% GDP cho KHCN.
Cần sớm thí điểm mô hình tổng công trình sư cho các dự án khoa học công nghệ lớn, quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích để thu hút người đủ dũng khí nhận nhiệm vụ.
Luật đã cho phép nhà khoa học tham gia góp vốn và điều hành doanh nghiệp, nhưng vẫn không cho phép họ trực tiếp thành lập doanh nghiệp, điều này làm giảm động lực thương mại hóa.

Đó là chia sẻ của nguyên Bộ trưởng KHCN Nguyễn Quân trong cuộc trò chuyện với VietTimes.

1.png

- Thưa ông, nhìn lại hơn một năm triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, ông đánh giá đâu là những chuyển biến quan trọng nhất trong tư duy và cách tiếp cận phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của hệ thống chính trị?

- Tôi cho rằng chuyển biến quan trọng nhất nằm ở sự thay đổi rất căn bản trong tư duy và cách tiếp cận của toàn bộ hệ thống chính trị đối với phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Lần đầu tiên, KHCN không chỉ được khẳng định là quốc sách hàng đầu về mặt chủ trương, mà còn được tổ chức thực hiện bằng một cơ chế lãnh đạo, điều hành ở mức cao nhất.

Việc người đứng đầu Đảng trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 57 và Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Ban Chỉ đạo của Chính phủ đã tạo ra áp lực và động lực rất lớn đối với toàn bộ máy. Nhờ đó, các nhiệm vụ không còn dừng ở hoạch định chính sách, mà được triển khai với cường độ cao, đồng bộ và liên tục trên phạm vi toàn quốc.

Chuyển biến thứ hai là sự thay đổi trong tư duy về thể chế. Nếu trước đây, thể chế thường bị xem là điểm nghẽn của điểm nghẽn, thì trong thời gian qua, cách tiếp cận đã chuyển sang coi thể chế là điểm đột phá của mọi đột phá.

Việt Nam đã có cách tiếp cận chủ động, đi trước một bước trong hoàn thiện hành lang pháp lý cho các công nghệ và mô hình phát triển mới.

2.png

- Đến nay có thể nói khung chính sách để phát triển KHCN đã tương đối đầy đủ, nhưng thực tế việc phát triển KHCN vẫn gặp nhiều ách tắc khi triển khai, thưa ông?

- Về cơ bản, các “nút thắt lớn” đã được Đảng và Nhà nước nhận diện và tháo gỡ bằng các nghị quyết của Đảng, các đạo luật và nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, những gì đang tồn tại hiện nay không hẳn là rào cản mới, mà là những vướng mắc cũ được “đóng gói” trong một hình thức mới, chưa được giải quyết một cách triệt để.

Ví dụ, Nghị quyết 57 yêu cầu thực hiện cơ chế quỹ đối với ngân sách khoa học công nghệ, nhưng các văn bản hiện hành vẫn chưa tạo ra một cơ chế quỹ đúng nghĩa. Chưa có quy định cụ thể về việc trong 2–3% tổng chi ngân sách dành cho KHCN, bao nhiêu tiền cho các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng phải được cấp thẳng, cấp trước theo mức vốn điều lệ của các quỹ phát triển KHCN.

Vì vậy, các bộ, ngành vẫn được yêu cầu làm theo cách cũ: lập dự toán theo kế hoạch năm tài chính, phê duyệt nhiệm vụ rồi lập danh mục kèm tổng dự toán để năm tài chính sau mới được bố trí ngân sách. Nói là cơ chế quỹ, nhưng thực chất vẫn là cơ chế cấp phát kế hoạch hóa truyền thống.

Tương tự, Nghị quyết 57 quy định giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu, lẽ ra phải giao cho người trực tiếp làm ra sản phẩm, nhưng luật KHCN và ĐMST và Nghị quyết 193/2025/QH15 lại giao cho cơ quan chủ trì nhiệm vụ KHCN, tức là các viện, trường.

Nhà khoa học muốn chuyển giao công nghệ vẫn phải xin phép đơn vị chủ quản, tạo thêm một nấc trung gian, làm giảm hiệu quả thương mại hóa. Việc định giá kết quả nghiên cứu cũng vậy: Giao cho viện, trường, trong khi người hiểu rõ giá trị nhất và trực tiếp đàm phán với doanh nghiệp lại là nhà khoa học trực tiếp thực hiện đề tài.

3.png

- Vậy theo ông, Quốc hội và Chính phủ cần làm gì để bảo đảm tinh thần Nghị quyết 57 được thực thi nhất quán?

- Nhìn tổng thể, pháp luật đã có bước tiến, nhưng còn nhiều quy định nửa vời, chưa phản ánh trọn vẹn tinh thần Nghị quyết 57. Quốc hội vừa thông qua Luật Khoa học Công nghệ và ĐMST, nhưng nhiều quy định của các luật mới còn thiếu đồng bộ, chưa tương thích với các quy định Luật Ngân sách, Luật Quản lý tài sản công, Luật Thuế, Luật Viên chức ban hành trước đó.

Vì vậy, Quốc hội và Chính phủ cần có cơ chế theo dõi, giám sát chặt chẽ việc sửa các luật liên quan, bảo đảm rằng các quy định mới về KHCN không bị “triệt tiêu” bởi những luật ban hành từ trước. Những rào cản hiện nay không phải là hoàn toàn mới mà vẫn là những vướng mắc cốt lõi, mới chỉ được tháo gỡ một phần, chưa đến nơi đến chốn.

- Thực tế còn nhiều kết quả nghiên cứu KHCN bị “xếp trong ngăn kéo”, trong khi hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước chưa cao, thưa ông?

- Chúng ta có rất nhiều nhà khoa học tài năng, rất nhiều đơn vị nghiên cứu mạnh, nhưng lại có rất ít sản phẩm có thể ứng dụng vào thực tiễn. Ngành tài chính cho rằng năng lực giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn của khoa học công nghệ còn hạn chế, nên dù có tăng đầu tư cũng khó phát huy tác dụng.

Thực tế này đặt trong bối cảnh chính cơ chế tài chính lạc hậu và không đồng bộ làm cho ngành khoa học không thể giải ngân được nguồn vốn ngân sách và làm giảm hiệu quả đầu tư của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu. Trong khi đó, chưa có cơ chế đủ mạnh để huy động nguồn đầu tư của doanh nghiệp như các nước phát triển.

Mặc dù đã có những bước rút ngắn, nhưng nếu chúng ta không tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường và không áp dụng các thông lệ quốc tế, không đổi mới tư duy một cách triệt để, không chấp nhận những đặc thù của ngành, chắc chắn chúng ta sẽ không thể rút ngắn khoảng cách đó.

4.png

- Vậy, cơ quan quản lý cần làm gì trong năm 2026 để các chính sách sớm phát huy hiệu quả?

- Trước hết, đúng như tinh thần Nghị quyết 57, điều quan trọng nhất là phải đổi mới thể chế, đổi mới tư duy quản lý. Tư duy đó phải được thể hiện trong việc ban hành các văn bản dưới luật, sao cho đáp ứng được yêu cầu đột phá của thực tiễn.

Theo tôi, để các chính sách sớm đi vào cuộc sống, năm 2026 cơ quan quản lý cần tập trung làm ngay 3 việc then chốt:

Thứ nhất, khẩn trương thành lập và vận hành các quỹ phát triển KHCN. Ngành tài chính phải cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước vào các quỹ này theo đúng cơ chế quỹ, tức là cấp trước theo mức vốn điều lệ và đề xuất của Bộ KH&CN, không phụ thuộc vào việc đã có danh mục nhiệm vụ được phê duyệt hay chưa.

Hiện nay, cách làm vẫn theo lối cũ: phải phê duyệt đề tài, thẩm định dự toán, lập danh mục nhiệm vụ kèm tổng dự toán, tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội và Chính phủ, rồi năm sau mới cấp tiền. Như vậy không phải là cơ chế quỹ. Thực tế cho đến nay, nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thành lập quỹ, hoặc đã lập rồi lại giải thể. Cần khởi động lại việc này để tạo “đầu mối” đón ngân sách và giải ngân linh hoạt cho hoạt động nghiên cứu.

Thứ hai, các địa phương cần thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thu hút nguồn lực xã hội cho khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu của Nghị quyết 57 là đến 2030 thu hút được 2% GDP quốc gia cho phát triển KHCN.

2-4834.jpg
TS Nguyễn Quân cho rằng cần sớm thí điểm mô hình tổng công trình sư cho các dự án khoa học công nghệ lớn. Ảnh minh họa/nguồn: Vjst.

Hiện mới có Hà Nội thí điểm, TP.HCM đang chuẩn bị, còn lại rất im ắng. Ngay cả ở hai đô thị lớn, việc lập quỹ mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải có hệ thống văn bản hướng dẫn và đội ngũ am hiểu để vận hành hiệu quả, tránh tình trạng lập quỹ xong nhiều năm không giải ngân được rồi lại giải thể.

Thứ ba, cần sớm thí điểm mô hình tổng công trình sư cho các dự án khoa học công nghệ lớn. Hiện gần như chưa có dự án nào vận hành theo mô hình này do quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích của tổng công trình sư chưa được quy định rõ. Chưa rõ họ được quyền tự chủ đến đâu về tài chính, nhân sự và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, được hưởng ưu đãi gì, nên rất khó tìm người đủ dũng khí nhận nhiệm vụ.

Nếu làm được ba việc này, sẽ tạo bước tiến rất lớn. Nếu không, dù Nhà nước có bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, tức là hàng trăm nghìn tỷ đồng, thì việc giải ngân vẫn sẽ bế tắc hoặc không hiệu quả.

5.png

- Về phía doanh nghiệp, nhà khoa học, họ cần làm gì để sớm tận dụng các chính sách ưu đãi đặc biệt đã được ban hành?

- Ở thời điểm hiện nay, rất khó yêu cầu doanh nghiệp và nhà khoa học chủ động hành động, bởi hệ thống chính sách hướng dẫn vẫn chưa đầy đủ và chưa đủ hấp dẫn để họ dấn thân.

Ví dụ, luật đã cho phép nhà khoa học (thuộc các cơ quan nhà nước) tham gia góp vốn và điều hành doanh nghiệp, nhưng vẫn không cho phép họ trực tiếp thành lập doanh nghiệp. Chỉ đơn vị sự nghiệp công lập mới được quyền lập doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp này về bản chất vẫn là doanh nghiệp nhà nước, chịu ràng buộc chặt chẽ, thiếu linh hoạt và khả năng chấp nhận rủi ro.

- Đó là lý do khiến nhà khoa học hiện vẫn thờ ơ với việc lập và điều hành doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của chính họ?

- Nhà khoa học không mặn mà với việc điều hành doanh nghiệp của viện hay trường. Họ có phần lo lắng khi hết thời gian điều hành doanh nghiệp quay trở lại viện, trường có được đảm bảo quyền lợi hay không.

Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các doanh nghiệp spin-off thường do chính nhà khoa học lập ra trên cơ sở kết quả nghiên cứu (bằng sáng chế, bí quyết công nghệ) của mình.

Họ sử dụng doanh nghiệp để hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm lô số 0, phát triển thị trường, rồi có thể bán doanh nghiệp (M&A) để lấy vốn quay lại đầu tư cho nghiên cứu mới, tạo thành một vòng tuần hoàn đổi mới sáng tạo.

Cách làm hiện nay của ta mang tính nửa vời, nên không tạo được động lực thực sự.

- Trong bối cảnh hiện nay, đâu là rào cản lớn nhất còn tồn tại khiến đội ngũ khoa học chưa sẵn sàng nhận nhiệm vụ tổng công trình sư?

- Với mô hình tổng công trình sư, dù đã có nghị định, nhưng quyền hạn, cơ chế bảo vệ, ưu đãi, miễn trừ trách nhiệm và các tiêu chí tuyển chọn nhân sự vẫn chưa được quy định rõ ràng.

Các văn bản mới chỉ nói chung rằng sẽ miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp khách quan, nhưng khách quan là gì, chủ quan là gì thì không được quy định cụ thể.

Trong bối cảnh như vậy, nhà khoa học rất sợ rủi ro pháp lý, sợ trách nhiệm, nên không dám nhận nhiệm vụ lớn.

Vì vậy, vấn đề cốt lõi hiện nay vẫn nằm ở phía cơ quan quản lý. Cần hoàn thiện hệ thống quy định một cách cụ thể, rõ ràng, tạo hành lang pháp lý an toàn và đủ hấp dẫn. Khi đó, viện, trường, nhà khoa học và doanh nghiệp mới có thể mạnh dạn tham gia vào các chương trình, dự án lớn.

- Xin cảm ơn ông!

Nội dung: Anh Lê
Thiết kế: Xuân Lực

Viettimes Media

Rực rỡ làng hoa miền Tây ngày cận Tết

Rực rỡ làng hoa miền Tây ngày cận Tết

Làng hoa truyền thống Mỹ Phong, Sa Đéc, Chợ Lách... đang khoác lên mình tấm áo rực rỡ sắc xuân. Du khách đến miền Tây dịp này sẽ không khỏi bất ngờ về vẻ đẹp chỉ xuất hiện mỗi độ xuân về.

Vốn hóa F88 chạm mốc 1 tỷ USD

Vốn hóa F88 chạm mốc 1 tỷ USD

Đà tăng mạnh của cổ phiếu không chỉ giúp F88 trở thành “kỳ lân” mới tại Việt Nam mà còn khiến giá trị tài sản của các cổ đông lớn tăng vọt.

Tiểu sử Tổng bí thư Tô Lâm

Tiểu sử Tổng bí thư Tô Lâm

Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Quy trình 9 bước bầu Bộ Chính trị

Quy trình 9 bước bầu Bộ Chính trị

Theo Quyết định số 190-QĐ/TW, sau phiên họp thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các bước tiếp theo của quy trình bầu Bộ Chính trị sẽ được tiến hành.