Lịch sử phát triển của các cường quốc trên thế giới đã chứng minh: Không một quốc gia nào có thể hùng cường, tự chủ nếu chỉ dựa vào việc chuyển giao công nghệ hay gia công, lắp ráp. Gốc rễ của mọi sự phát triển công nghệ đột phá, của một nền kinh tế tri thức bền vững chính là khoa học cơ bản (KHCB).
Nhận thức rõ quy luật phát triển này, trong chỉ đạo chiến lược mới nhất, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc". Đây không chỉ là một thông điệp cổ vũ, mà là một mệnh lệnh hành động, một tầm nhìn mang tính bước ngoặt nhằm định vị lại vai trò của khoa học, công nghệ trong chiến lược phát triển quốc gia.
Mục tiêu tổng quát mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước vạch ra là xây dựng nền nghiên cứu KHCB Việt Nam hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, có khả năng tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, cung cấp luận cứ chiến lược cho hoạch định đường lối, chính sách và làm nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thực trạng nền khoa học nước nhà hiện nay vẫn còn nhiều rào cản, từ cơ chế tài chính quản lý theo kiểu “hành chính hóa”, thủ tục thanh quyết toán phức tạp, cho đến sự thiếu hụt các chính sách đãi ngộ đủ mạnh để thu hút và giữ chân nhân tài. Nhận diện rõ những lực cản này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một mốc thời gian cụ thể và quyết liệt: Từ nay đến tháng 6/2027 phải tháo gỡ toàn bộ các điểm nghẽn, nút thắt.
Nguyên Bộ trưởng Bộ TT&TT Lê Doãn Hợp nói với VietTimes: “Đây là một yêu cầu mang tính tối hậu thư, buộc các cơ quan quản lý tư duy phải thay đổi, từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo” và “phục vụ” khoa học.
Tháo gỡ điểm nghẽn không chỉ là sửa đổi vài thông tư, nghị định, mà là sự thay đổi căn bản về triết lý đầu tư. Nghiên cứu cơ bản có đặc thù là độ trễ lớn, rủi ro cao, không thể đo đếm hiệu quả bằng những chỉ số thương mại tức thì hay sản phẩm có thể cầm nắm ngay lập tức. Nếu cứ áp dụng tư duy tài chính của đầu tư công thông thường vào nghiên cứu khoa học, chúng ta sẽ tự trói chân các nhà khoa học trước khi họ kịp sáng tạo”.
Mục tiêu cốt lõi hướng đến năm 2030 là cần hình thành tương đối đồng bộ hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản quốc gia, từng bước xây dựng một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu khoa học lớn và hạ tầng nghiên cứu dùng chung có năng lực cạnh tranh trong khu vực.
“Hệ sinh thái này chính là vườn ươm để các ý tưởng sáng tạo được nảy mầm. Trong đó, hạ tầng nghiên cứu dùng chung là một tư duy rất hiện đại và kinh tế. Việt Nam không thể dàn trải ngân sách để đầu tư các phòng thí nghiệm đắt đỏ cho từng trường, từng viện, mà phải tập trung nguồn lực xây dựng các trung tâm dùng chung đạt chuẩn quốc tế, tối ưu hóa hiệu suất thiết bị và tạo không gian kết nối liên ngành. Các nhóm nghiên cứu mạnh sẽ là hạt nhân dẫn dắt, tạo ra sức hút thúc đẩy cộng đồng khoa học trong nước không ngừng vươn lên tiệm cận các tiêu chuẩn khu vực” - ông Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, chia sẻ với VietTimes.
Tầm nhìn 2045 và khát vọng tự chủ công nghệ chiến lược
Nếu giai đoạn đến năm 2030 là bước chuẩn bị bệ phóng và định hình cấu trúc, thì tầm nhìn đến năm 2045, mốc kỷ niệm 100 năm thành lập nước, chính là thời điểm nền khoa học Việt Nam phải khẳng định vị thế và bản sắc trên bản đồ quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đến năm 2045, hình thành một số lĩnh vực KHCB có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước hình thành các trường phái khoa học Việt Nam, nâng cao năng lực tự chủ ở một số công nghệ chiến lược.
“Khái niệm trường phái khoa học Việt Nam đặt ra một bài toán rất lớn về chiều sâu văn hóa và tư duy học thuật. Một trường phái khoa học không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự kế thừa qua nhiều thế hệ, được định hình bởi những bộ óc kiệt xuất giải quyết những bài toán lớn mang tính đặc thù của đất nước hoặc đóng góp những lý thuyết mới cho kho tàng tri thức nhân loại.
Việt Nam từng có những điểm sáng như trường phái Toán học Hoàng Tụy, Lê Văn Thiêm, nhưng để tạo thành một hệ thống các trường phái mạnh ở nhiều lĩnh vực như Vật lý, Hóa học, Sinh học học cơ bản, chúng ta cần một chiến lược nuôi dưỡng nhân tài dài hơi, nhất quán” - ông Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lý giải.
Song song đó, việc nâng cao năng lực tự chủ ở một số công nghệ chiến lược là yếu tố an ninh quốc gia tối thượng. Sẽ không có chip bán dẫn, không có trí tuệ nhân tạo (AI) hay công nghệ sinh học thế hệ mới của người Việt nếu chúng ta không làm chủ được toán học ứng dụng, vật lý chất rắn hay sinh học phân tử. Khoa học cơ bản chính là chiếc chìa khóa vạn năng giúp Việt Nam thoát khỏi bẫy gia công công nghệ, tự tin làm chủ các công nghệ cốt lõi, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên cả không gian thực lẫn không gian số.
Điểm tựa quản trị quốc gia
Một điểm nhấn đặc biệt quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư chính là vai trò của Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV). Bản chỉ đạo yêu cầu đồng thời xây dựng nền khoa học xã hội và nhân văn đủ năng lực cung cấp luận cứ cho quản trị quốc gia hiện đại và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
“Lâu nay, khi nói đến KHCB, người ta thường nghĩ nhiều đến các ngành khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa. Thế nhưng, KHXH&NV chính là hệ điều hành của một quốc gia. Đất nước không thể phát triển bền vững nếu chỉ có những nhà máy hiện đại hay những cây cầu nghìn tỷ, mà thiếu đi một hệ giá trị văn hóa vững chãi, một cơ chế quản trị công hiệu quả và một tư duy hoạch định chính sách bắt kịp xu thế thời đại” - TS Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ nói.
Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, địa chính trị khó lường, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tái cấu trúc lại các mối quan hệ xã hội, KHXH&NV Việt Nam phải gánh vác sứ mệnh lớn lao:
Khảo sát, tổng kết thực tiễn để cung cấp các luận cứ khoa học, khách quan cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại. Nghiên cứu, đề xuất các mô hình quản trị quốc gia hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện.
Định hình và phát huy hệ giá trị con người, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị văn hóa Việt Nam, biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh, thành màng lọc bảo vệ xã hội trước những xu hướng lai căng, tiêu cực. Đầu tư cho KHXH&NV, suy cho cùng, chính là đầu tư cho sự ổn định chiến lược và sự trường tồn của chế độ, của dân tộc.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gióng lên một hồi chuông thôi thúc, làm thay đổi căn bản nhận thức của toàn xã hội về vị thế của khoa học cơ bản. Khoa học không phải là một món đồ xa xỉ chỉ dành cho các nước giàu, mà là phương tiện duy nhất để một nước chưa giàu vươn lên thành nước giàu.
Đầu tư cho khoa học cơ bản hôm nay chính là gieo hạt giống cho mùa màng thịnh vượng của mai sau. Khi những điểm nghẽn được khơi thông, khi hệ sinh thái khoa học được vận hành đồng bộ và các nhà khoa học được cởi trói tư duy, được trân trọng đúng mực, nền khoa học Việt Nam chắc chắn sẽ tạo nên những kỳ tích mới, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
