Sau khi Mỹ và Israel phát động các cuộc tấn công cường độ cao nhằm vào Iran, nhiều quốc gia khác cũng nhanh chóng tham gia vào chiến dịch. Chỉ trong vài giờ đầu của cuộc xung đột, Arab Saudi, Qatar, Kuwait, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) và Bahrain đã kích hoạt các máy bay chiến đấu và hệ thống phòng không tại chỗ nhằm bảo vệ các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ của họ.
Pháp và Anh, những nước trước đó đã triển khai sẵn các tiêm kích Rafale và Eurofighter tại UAE và Qatar, đã nhanh chóng điều động các máy bay này để tìm cách bắn hạ các máy bay không người lái và đạn bay lảng vảng của Iran đang tiến hành các cuộc tấn công vào các căn cứ Mỹ tại hai quốc gia vùng Vịnh. Các tiêm kích F-35B của Anh đóng tại Cyprus cũng tham gia vào các hoạt động phòng không.
Hải quân Pháp đã điều động tàu sân bay duy nhất của mình, Charles de Gaulle, tới Địa Trung Hải nhằm tăng cường thêm sức mạnh không quân của liên minh chống lại Iran, trong khi Anh triển khai tàu khu trục phòng không lớp Type 45 HMS Duncan để hỗ trợ thêm cho chiến dịch.
Sự tham gia của Pháp và Anh khiến 4 trong số 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân trên thế giới rơi vào trạng thái chiến tranh với Iran, trong khuôn khổ một cuộc tấn công được phát động dưới nhiều lý do khác nhau, trong đó có mục tiêu ngăn chặn quốc gia này phát triển năng lực răn đe hạt nhân riêng.
Trước đây, Iran từng chấp nhận cho phép giám sát chặt chẽ các hoạt động hạt nhân của mình theo thỏa thuận hạt nhân Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA) để đổi lấy việc được nới lỏng các lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận vào năm 2018 và tái áp đặt các lệnh trừng phạt đã khiến thỏa thuận này sụp đổ.
Dù vậy, vẫn tồn tại sự đồng thuận rộng rãi trong giới phân tích rằng Iran hầu như không cho thấy dấu hiệu rõ ràng cho thấy nước này đang phát triển vũ khí hạt nhân. Việc Tehran thậm chí không phát triển năng lực vũ khí hóa học nhằm tăng cường sức mạnh cho kho tên lửa đạn đạo của mình cũng góp phần khiến quốc gia này trở nên dễ bị tổn thương hơn trước các cuộc tấn công của phương Tây.
Khi Mỹ và Israel gặp phải nhiều trở ngại trong giai đoạn đầu của chiến dịch, các dự báo về thời gian kéo dài của cuộc tấn công liên tục được điều chỉnh. Ngày 4/3, Lầu Năm Góc thông báo rằng cuộc xung đột được dự đoán sẽ kéo dài ít nhất 100 ngày và có thể đòi hỏi các hoạt động quân sự cho tới tháng 9.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ cũng đã yêu cầu mở rộng đội ngũ sĩ quan tình báo tại trụ sở ở Tampa nhằm hỗ trợ các chiến dịch tại Iran cho tới tháng 9, cho thấy cuộc chiến có khả năng kéo dài lâu hơn nhiều so với dự kiến ban đầu.
Bên cạnh Pháp và Anh, ngày càng nhiều quốc gia thành viên NATO cho thấy khả năng sớm tham gia vào nỗ lực chiến tranh. Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết liên minh đã sẵn sàng cho khả năng áp dụng Điều 5 về phòng thủ tập thể trong chiến dịch của Mỹ chống Iran.
Thủ tướng Canada Mark Carney tuyên bố ông không loại trừ khả năng lực lượng vũ trang Canada tham gia các hành động quân sự chống Iran, trong khi các quan chức Đức cũng cho biết quân đội nước này có thể sớm can thiệp.
Italy sau đó xác nhận sẽ hỗ trợ các hoạt động phòng không tại khu vực Vùng Vịnh, nơi các nỗ lực phòng không của Mỹ và các quốc gia địa phương đang chịu áp lực ngày càng lớn.
Nhiều quốc gia thành viên NATO, trong đó có Đức và Italy, hiện có quyền tiếp cận vũ khí hạt nhân của Mỹ trong thời chiến theo các thỏa thuận chia sẻ hạt nhân, điều này tạo ra khả năng leo thang đối với Iran nếu diễn biến chiến sự trở nên bất lợi.
Ngày 5/3, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran tuyên bố rằng trong những ngày tới, khi ngày càng nhiều hệ thống radar và phòng không của đối phương bị làm tê liệt, các cuộc tấn công của Iran sẽ trở nên dữ dội và có quy mô lớn hơn trước.
Theo MW