close Đăng nhập

Việt Nam sau 41 năm Đổi mới: Hành trình chuyển mình mạnh mẽ qua những con số

Từ mức lạm phát 774,7% và quy mô GDP khoảng 8 tỷ USD năm 1986, Việt Nam sau 41 năm Đổi mới đã trở thành nền kinh tế 514 tỷ USD, với mạng lưới thương mại và đối tác toàn cầu ngày càng rộng mở.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x
Việt Nam sau 41 năm Đổi mới: Hành trình chuyển mình mạnh mẽ qua những con số

Quy mô kinh tế tăng hơn 60 lần từ 8 tỷ USD lên 514 tỷ USD

Năm 1986, Việt Nam đối mặt với khủng hoảng kinh tế, xã hội nghiêm trọng. Đất nước kiệt quệ sau nhiều thập kỷ chiến tranh, mô hình quản lý kinh tế tập trung bao cấp bộc lộ vô số hạn chế và điểm nghẽn. Lạm phát năm 1986 đỉnh điểm lên tới 774,7%, hàng hóa tiêu dùng khan hiếm trầm trọng, người dân phải xếp hàng từ sớm để mua từng cân gạo, chiếc lốp xe hay xô nhựa bằng tem phiếu. Lực lượng sản xuất bị trói buộc bởi cơ chế hành chính bao cấp, nền kinh tế rơi vào tình trạng đóng cửa, chịu sự bao vây cấm vận gay gắt từ bên ngoài.

Giữa lúc khó khăn, các chính sách đổi mới kinh tế, đặc biệt là Khoán 10 (1988) và cải cách cơ chế thị trường, đã tạo bước ngoặt quan trọng, từng bước đưa nước ta từ vị trí một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu ngày nay.

Nhìn lại cột mốc 41 năm Đổi mới, con số quy mô GDP chính là bằng chứng xác thực nhất cho sự "trở mình" kỳ diệu của đất nước. Năm 1986, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chỉ đạt khoảng 8 tỷ USD. Đến nay, quy mô nền kinh tế nước đã vượt mốc 500 tỷ USD/năm vào năm 2025.

TP Hồ Chí Minh, một trong những đầu tàu kinh tế Việt Nam. Ảnh: Canva/Duy Nguyen.

TP Hồ Chí Minh, một trong những đầu tàu kinh tế Việt Nam. Ảnh: Canva/Duy Nguyen.

Cụ thể, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 cho thấy quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới.

Về thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP), theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam hiện là quốc gia có tốc độ tăng thu nhập PPP nhanh nhất ASEAN trong giai đoạn 1990 - 2024. Nếu năm 1990 mức thu nhập PPP mới khoảng 1.100 USD/người thì đến năm 2024 đã tăng gần 14 lần, đạt khoảng 15.850 USD/người. Trong khi đó, Indonesia tăng hơn 5 lần, Philippines tăng khoảng 5 lần, Malaysia tăng khoảng 5,5 lần và Singapore tăng hơn 5 lần.

ppp-viet-nam-1-0917.jpg
Thu nhập bình quân (PPP) các nước khối ASEAN giai đoạn 1990 - 2024. Nguồn: WB.

Cơ cấu kinh tế cũng ghi nhận sự chuyển dịch căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Năm 1986, ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng trong cơ cấu GDP là 38,06%, 28,88%, 33,06%. Tuy nhiên, sau 41 năm cơ cấu này đã thay đổi đáng kể. Báo cáo tình hình - Quý II và sáu tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê cho biết khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng chỉ chiếm 10,61%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; khu vực dịch vụ chiếm 43,52%.

Ngày nay, Việt Nam không còn là một nền kinh tế tự cung tự cấp, phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ hay nông nghiệp thô, mà đã trở thành một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

1-1787876025562719792148.png
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, 1986 - 2025. Nguồn: Cục Thống kê.

Nếu năm 1986, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới đạt gần 3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu khoảng 789 triệu USD, nhập khẩu khoảng 2,16 tỷ USD thì sau 40 năm, bức tranh đã thay đổi căn bản. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt khoảng 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, trong đó xuất khẩu đạt trên 430 tỷ USD. Việt Nam đã vươn lên nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Sáu tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước.

Từ vị thế một quốc gia bị bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam đã đàm phán, ký kết và thực thi hơn 17 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) song phương và đa phương, trong đó có các FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn rất cao như CPTPP, EVFTA và RCEP.

Những con số trên không đơn thuần là dòng dữ liệu khô khan trên giấy. Chúng phản ánh một bước ngoặt lịch sử về mặt tư duy: Dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, giải phóng triệt để sức sản xuất, chấp nhận vận hành theo quy luật của cơ chế thị trường và chủ động, tích cực mở cửa hội nhập quốc tế. Sự thay đổi cơ chế đã tháo gỡ điểm nghẽn nguồn lực, biến một nền kinh tế thiếu hụt nghiêm trọng thành một trong những động lực tăng trưởng năng động nhất khu vực.

Tỷ lệ nghèo giảm từ 58,1% xuống còn 1,3%, chất lượng sống được nâng cấp

Nếu quy mô kinh tế được coi là phần khung đỡ, thì chất lượng sống của người dân chính là phần hồn, phản ánh thước đo giá trị thực sự của tiến trình Đổi mới. Sự thay đổi lớn nhất không chỉ nằm ở những tòa nhà cao tầng chọc trời hay mạng lưới đường xá hiện đại, mà nằm ngay trong từng bữa ăn, nếp ở, cơ hội học hành và tuổi thọ của mỗi người dân Việt Nam.

word-avatar-7821.jpg
Việt Nam được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những điểm sáng lớn nhất thế giới về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đặc biệt là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Ảnh minh họa.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), đến năm 1993, tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 58,1%. Hơn một nửa dân số lúc đó phải sống trong cảnh thiếu thốn, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục ở mức tối thiểu. Qua 41 năm, Việt Nam được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những điểm sáng lớn nhất thế giới về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, đặc biệt là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm xuống còn khoảng 1,3% (2025). GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD (thập niên 1980) lên 5.026 USD (năm 2025). Hàng chục triệu người đã thoát nghèo bền vững.

Việt Nam đã chính thức thoát khỏi nhóm quốc gia nghèo nàn, bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp và đang vững vàng tiến tới mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Sự gia tăng thu nhập này giúp mở rộng tầng lớp trung lưu, kích thích cầu tiêu dùng nội địa và tạo sự cải thiện rõ rệt trong tích lũy tài sản hộ gia đình.

Sự nâng cấp đời sống còn biểu hiện qua các chỉ số phát triển con người (HDI). Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 1986 chỉ ở mức 62 tuổi, đến nay đã tăng lên hơn 73,7 tuổi, cao hơn hẳn mức trung bình của nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân.

Tỷ lệ người dân được tiếp cận điện lưới quốc gia năm 1986 chưa đầy 10%, thì nay đã đạt gần 100%, phủ sóng tới từng vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Tỷ lệ người dân sử dụng Internet đạt trên 78% dân số, đưa Việt Nam thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển hạ tầng số và chuyển đổi số nhanh nhất trong khu vực.

Từ chỗ "ăn đủ no, mặc đủ ấm", người dân Việt Nam đã tiến sang giai đoạn "ăn ngon, mặc đẹp", tận hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và giải trí chất lượng cao. Hệ thống y tế bao phủ rộng khắp từ trung ương đến cơ sở, hạ tầng giáo dục được kiên cố hóa, diện mạo nông thôn đổi thay nhờ chương trình nông thôn mới. Đây là minh chứng rõ nhất cho mục tiêu cốt lõi của Đổi mới: Lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển.

Đô thị hóa thần tốc, 3.800km cao tốc đưa vào khai thác

Để nền kinh tế cất cánh và kết nối thị trường toàn quốc, hạ tầng giao thông và năng lượng đóng vai trò đường ray quyết định. Nhìn lại thời kỳ đầu Đổi mới, hệ thống giao thông Việt Nam vô cùng lạc hậu, đường sắt cũ kỹ, đường bộ chủ yếu là đường rải đá, đường hẹp, việc di chuyển hay vận chuyển hàng hóa giữa các vùng miền mất nhiều ngày đêm với chi phí logistics rất cao.

img5651-16620059537951035795131.jpg
Cao tốc Vân Đồn - Móng Cái xuyên tỉnh Quảng Ninh với tổng chiều dài 176 km. Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Sau 41 năm, bước bứt phá về hạ tầng đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo không gian kinh tế đất nước. Đến nay, Việt Nam đã đưa vào khai thác, thông xe kỹ thuật hơn 3.800km cao tốc trọng yếu, hình thành trục xương sống cao tốc Bắc - Nam phía Đông và các tuyến ngang kết nối Đông - Tây, từng bước hướng tới mục tiêu 5.000 km cao tốc. Những cây cầu văng hiện đại như Cần Thơ, Nhật Tân, Bãi Cháy, Rạch Miễu hay Hoàng Văn Thụ đã thay thế cho những bến phà lịch sử, xóa bỏ sự chia cắt địa lý, khơi thông dòng chảy giao thương và rút ngắn khoảng cách giữa các vùng kinh tế trọng điểm.

Hệ thống hạ tầng cảng biển và hàng không cũng ghi nhận sự lột xác vượt bậc. Các cụm cảng biển nước sâu như Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện có khả năng tiếp nhận những siêu tàu container tải trọng lớn nhất thế giới, đưa hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đi thẳng sang Bắc Mỹ, Châu Âu mà không cần qua các cảng trung chuyển trong khu vực. Các cảng hàng không quốc tế như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng và đại dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được đầu tư mở rộng, hiện đại hóa, kết nối Việt Nam trực tiếp với hàng trăm thành phố lớn trên thế giới.

Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ khoảng 19% năm 1986 lên khoảng 45% năm 2025. Các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ không chỉ mở rộng nhanh chóng về diện tích và quy mô dân số mà còn nâng cao chất lượng không gian sống, trở thành những hạt nhân, đầu tàu kéo nền kinh tế vùng phát triển. Sự kết nối đồng bộ giữa hạ tầng cứng (giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị) và hạ tầng mềm (viễn thông, cáp quang, trung tâm dữ liệu) đã tạo nền tảng vững chắc cho Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.

Hạ tầng năng lượng cũng phát triển vượt bậc để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Từ chỗ thiếu điện nghiêm trọng thời kỳ bao cấp, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống điện quốc gia quy mô lớn với sự kết hợp đa dạng giữa thủy điện, nhiệt điện và các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời. Lưới điện truyền tải 500kV Bắc - Nam đóng vai trò mạch máu năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hóa.

Quan hệ đối ngoại mở rộng tới 195 quốc gia

Vị thế quốc tế của Việt Nam sau 41 năm Đổi mới là một câu chuyện thành công mang tính bước ngoặt. Từ thế bị bao vây, cô lập và cấm vận về ngoại giao, Việt Nam đã kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, làm bạn, làm đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

img-4016.jpg
Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc gặp với Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại Nhà trắng. Nguồn ảnh: Bộ Ngoại giao.

Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với Việt Nam 195 quốc gia và một trong số ít các quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước thành viên Liên Hợp Quốc (hiện có 193 thành viên).

Việt Nam cũng mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ. Đặc biệt, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện hoặc Đối tác Chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và toàn bộ các nước thuộc nhóm G7, ASEAN. Mạng lưới đối tác chiến lược rộng mở này tạo dựng thế bố trí chiến lược vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Việt Nam không còn đứng bên lề hay tham gia thụ động, mà đã vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng như ASEAN, APEC, ASEM, Liên Hợp Quốc. Việc Việt Nam hai lần đảm nhiệm xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với số phiếu bầu kỷ lục, cùng việc chủ động cử lực lượng sĩ quan, bệnh viện tham gia các sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Châu Phi đã chứng minh Việt Nam là một nhân tố tích cực, có trách nhiệm cao với hòa bình và an ninh thế giới.

Nền ngoại giao kinh tế và vị thế quốc gia gia tăng cũng giúp thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khổng lồ. Từ con số 0 trước Đổi mới, đến nay Việt Nam đã thu hút hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng trên 20% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.

Các tập đoàn công nghệ và sản xuất hàng đầu thế giới như Samsung, Apple, Intel, Nvidia, Foxconn... đều chọn Việt Nam làm trung tâm sản xuất và mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

41 năm Đổi mới là một chặng đường lịch sử dài với biết bao gian khổ, tìm tòi, thử nghiệm và cả những bài học đắt giá. Những con số tăng trưởng kinh tế, cải thiện xã hội, bứt phá hạ tầng và nâng tầm vị thế ngoại giao là những bằng chứng thực tiễn không thể phủ nhận về một Việt Nam đã hồi sinh sau chiến tranh, bứt phá khỏi nghèo đói và vươn mình mạnh mẽ. Đứng trước kỷ nguyên mới, những thành tựu và nền tảng tích lũy từ 41 năm Đổi mới chính là điểm tựa vững chắc để đất nước tự tin tiến vào tương lai.

Xã hội số

Sở KH&CN TP Đà Nẵng đề xuất ưu tiên đưa Sâm Ngọc Linh và các sản phẩm chế biến từ sâm đủ điều kiện lên Sàn giao dịch “OCOP và đặc sản Đà Nẵng”. Ảnh XM.

Sàn OCOP Đà Nẵng trên Grab tăng 60% đơn hàng sau hai tuần

Sau 2 tuần triển khai Sàn giao dịch “OCOP và đặc sản Đà Nẵng” trên nền tảng Grab, gần 400 sản phẩm đặc sản Đà Nẵng đã được đưa lên sàn, số đơn hàng tăng gần 1.000 đơn (tăng 60%) và doanh thu tăng 30% so với cùng kỳ tháng 7/2026.