Cải cách thủ tục, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp
Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP (quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực) và Nghị định số 46/2026/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm - ATTP) của Chính phủ có mang tinh thần cải cách thủ tục hành chính triệt để trong lĩnh vực an toàn thực phẩm: Hàng loạt thủ tục đã được rà soát, bãi bỏ hoặc tinh gọn.
Trong lĩnh vực quảng cáo thực phẩm, 2 thủ tục hành chính (10,5% số thủ tục), đã được cắt giảm, thời gian giải quyết hồ sơ giảm khoảng 20%. Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí, nhất là trong bối cảnh quảng cáo là khâu then chốt để đưa sản phẩm ra thị trường.
Đối với chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước, thủ tục được cắt giảm 60%, đơn giản hóa 40%, thời gian giải quyết giảm 33,33%. Đây là thay đổi có ý nghĩa lớn, bởi kiểm nghiệm là khâu bắt buộc với hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Song song với cắt giảm thủ tục, chính sách ATTP mới còn đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Trong tổng số 39 thủ tục hành chính về ATTP thuộc ba ngành Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, đã có 31 thủ tục được phân cấp, tương đương 79,49%.
Việc này giúp doanh nghiệp và người dân tiếp cận thủ tục nhanh hơn, giảm tình trạng dồn hồ sơ lên trung ương, rút ngắn thời gian chờ đợi.
Siết điều kiện sản xuất để chặn thực phẩm giả từ gốc
Nếu cải cách thủ tục tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, thì việc siết chặt điều kiện sản xuất lại là điểm then chốt nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Nghị quyết 66 và Nghị định 46 đã bổ sung nhiều quy định mang tính “đặt hàng” về chất lượng, đặc biệt với các nhóm sản phẩm nhạy cảm.
Theo đó, các cơ sở sản xuất thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, thực phẩm bổ sung, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi bắt buộc phải áp dụng các hệ thống quản lý ATTP như HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc GMP. Đây là các tiêu chuẩn đang được nhiều quốc gia áp dụng, nhằm kiểm soát rủi ro ngay từ khâu sản xuất.
Đáng chú ý, chính sách mới buộc cơ sở sản xuất phải đứng tên công bố sản phẩm, thay vì để doanh nghiệp thương mại đứng tên như trước. Quy định này khắc phục triệt để tình trạng “đứng tên một lô hàng rồi rút lui”, để lại hậu quả cho thị trường và người tiêu dùng.
Khi nhà sản xuất là chủ thể công bố, trách nhiệm pháp lý về chất lượng và ATTP được xác lập rõ ràng, xuyên suốt vòng đời sản phẩm.
Thay đổi căn bản cơ chế công bố, đăng ký sản phẩm
Với tinh thần “thay đổi tư duy quản lý”, chính sách mới chuyển mạnh từ cơ chế tự công bố sang công bố tiêu chuẩn áp dụng và đăng ký bản công bố sản phẩm.
Theo đó, phiếu kiểm nghiệm phải bao gồm cả chỉ tiêu an toàn và chỉ tiêu chất lượng, thay vì chỉ tập trung vào an toàn như trước.
Các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao như thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm cho trẻ nhỏ phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm với hồ sơ chặt chẽ hơn, kiểm soát từ thành phần, quy trình sản xuất, bao bì tiếp xúc trực tiếp đến công dụng sản phẩm.
Thời hạn giải quyết được quy định rõ ràng: 15 ngày đối với hồ sơ công bố tiêu chuẩn áp dụng; 90 ngày đối với hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm.
Nếu hết thời hạn mà không có ý kiến bằng văn bản, doanh nghiệp được quyền sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về sản phẩm. Cách làm này vừa bảo vệ quyền chủ động của doanh nghiệp, vừa tăng kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước về ATTP.
Quản lý nhập khẩu và thương mại điện tử chặt hơn
Chính sách ATTP mới cũng siết lại các phương thức kiểm tra thực phẩm nhập khẩu, đặc biệt đã bỏ việc miễn kiểm tra nhà nước với các sản phẩm đã được cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố hoặc nhập khẩu để sản xuất nội bộ – một kẽ hở từng bị lợi dụng.
Các phương thức kiểm tra được sửa đổi theo hướng tăng trách nhiệm hậu kiểm: Kiểm tra giảm vẫn kiểm tra hồ sơ 100% lô hàng; Kiểm tra thông thường bổ sung lấy mẫu kiểm tra cảm quan, ghi nhãn, bao gói khi có nghi ngờ; Kiểm tra chặt yêu cầu kiểm nghiệm 100% chỉ tiêu theo hồ sơ công bố.
Trong bối cảnh bùng nổ thương mại điện tử, chính sách mới lần đầu tiên quy định rõ trách nhiệm của sàn giao dịch và nền tảng xã hội trong quản lý ATTP. Chủ sàn phải kiểm duyệt hồ sơ pháp lý sản phẩm, gỡ bỏ sản phẩm vi phạm khi có yêu cầu và chịu trách nhiệm liên đới nếu để xảy ra sự cố gây hại cho người tiêu dùng.
Người quảng cáo, người có ảnh hưởng (KOL) cũng phải công khai mối quan hệ tài trợ, chấm dứt tình trạng quảng cáo “núp bóng trải nghiệm”.
Hậu kiểm mạnh hơn, người dân được bảo vệ tốt hơn
Một điểm mới mang tính nền tảng là việc định hình rõ cơ chế hậu kiểm ATTP, tiến tới tiệm cận mô hình quản lý của các nước phát triển. Cơ quan quản lý phải có kế hoạch kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, chủ động lấy mẫu giám sát thị trường, tập trung vào các nhóm dễ tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh.
Cùng với đó là các biện pháp xử lý mạnh như thu hồi giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố, gỡ bỏ thông tin sản phẩm, tạm dừng tiếp nhận hồ sơ, tạo
Có thể nói rằng, Nghị quyết 66 và Nghị định 46 đã tạo ra một chính sách ATTP mang tính “hai chiều”: Một mặt giảm thủ tục, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, mặt khác siết chặt tiêu chuẩn, trách nhiệm và hậu kiểm để bảo vệ người dân.