Sáng 6/3, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) thông tin về dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh, trong đó đề xuất mở rộng đối tượng giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần, bao gồm cả những người có các yếu tố nguy cơ như áp lực học tập, công việc, stress kéo dài hoặc sang chấn tâm lý.
Điều này là cần thiết trong bối cảnh ở Việt Nam, tỷ lệ mắc 10 chứng rối loạn tâm thần phổ biến trong năm 2014 là 14,2%, trong đó riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2,45%. Tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5,87 trên 100.000 dân.
3 nhóm đối tượng giám sát
Theo dự thảo, đối tượng giám sát được chia thành 3 nhóm chính:
Nhóm thứ nhất là người mắc rối loạn tâm thần với các bệnh phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ và các rối loạn khác theo danh mục chuyên môn.
Nhóm thứ hai là người tử vong do rối loạn tâm thần. Dữ liệu thu thập từ hoạt động này giúp ngành y tế nhận diện những bệnh lý rối loạn tâm thần có nguy cơ dẫn đến tử vong, từ đó xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp.
Nhóm thứ ba là người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần. Theo định nghĩa trong dự thảo, đây là những người từng có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ liên quan đến sinh học, tâm lý, xã hội hoặc các yếu tố khác.
4 nhóm nguy cơ được giám sát
Dự thảo Thông tư nêu rõ 4 nhóm yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc rối loạn tâm thần.
Nhóm yếu tố thứ nhất là sinh học và di truyền. Những người có tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần được xác định có nguy cơ cao hơn. Ngoài ra, các tổn thương não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não hoặc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh cũng có thể làm gia tăng nguy cơ.
Bên cạnh đó, một số giai đoạn sinh lý đặc biệt như dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh, mãn kinh và người cao tuổi cũng được xem là thời điểm dễ xuất hiện các rối loạn tâm thần.
Nhóm yếu tố nguy cơ thứ hai là yếu tố tâm lý. Các tình trạng stress kéo dài hoặc sang chấn tâm lý như mất người thân, ly hôn, thất nghiệp, bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn hoặc thảm họa có thể gây tác động mạnh đến sức khỏe tâm thần.
Ngoài ra, những người có đặc điểm nhân cách nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti hoặc cầu toàn quá mức cũng được xác định là nhóm có nguy cơ cao. Người có kỹ năng đối phó kém với stress hoặc từng có ý nghĩ hay hành vi tự sát cũng thuộc nhóm cần được theo dõi.
Nhóm yếu tố nguy cơ thứ ba là yếu tố xã hội. Tình trạng cô lập xã hội, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, kỳ thị hoặc phân biệt đối xử có thể khiến nguy cơ rối loạn tâm thần gia tăng.
Ngoài ra, môi trường sống không an toàn, có bạo lực, tội phạm hoặc thường xuyên xảy ra thiên tai cũng có thể tạo ra áp lực tâm lý kéo dài. Việc lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, ma túy hoặc thuốc an thần cũng được xác định là yếu tố nguy cơ quan trọng.
Đáng chú ý, Bộ Y tế lần đầu nhấn mạnh nhóm yếu tố nguy cơ từ áp lực cao và kéo dài trong học tập, lao động và kinh tế. Theo Bộ Y tế, đây là những yếu tố ngày càng phổ biến trong đời sống hiện đại và có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần.
Hướng tới phát hiện sớm và phòng ngừa
Quy định về giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần là nội dung mới trong Luật Phòng bệnh, đang được các nhà khoa học, chuyên gia tâm thần học và cơ quan quản lý tiếp tục thảo luận, góp ý để hoàn thiện.
Theo Bộ Y tế, mục tiêu của quy định này là xây dựng hệ thống giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và không tạo gánh nặng trong tổ chức thực hiện.
Song song với đó, ngành y tế cũng hướng tới xây dựng các bộ công cụ hỗ trợ cơ sở y tế và người dân tự đánh giá các yếu tố nguy cơ, để có các biện pháp can thiệp kịp thời, góp phần giảm nguy cơ gia tăng rối loạn tâm thần trong cộng đồng.