Nhìn vào con số lỗ lũy kế gần 45.000 tỷ tính đến hết năm 2024, phản ứng đầu tiên của đa số người dân là sự e ngại, thậm chí phản ứng gay gắt. Tâm lý kinh doanh theo kiểu lời ăn lỗ dân chịu vốn là định kiến thâm căn cố đế mỗi khi một tập đoàn nhà nước gặp khó khăn tài chính và tìm cách chuyển lỗ vào giá bán.
Tuy nhiên, nếu bóc tách vấn đề một cách bình tĩnh, sòng phẳng dưới góc độ kinh tế học và quản lý vĩ mô, câu chuyện không đơn thuần là sự yếu kém của một doanh nghiệp, mà là hệ quả tất yếu của một cơ chế điều tiết giá đang kẹt giữa tư duy bao cấp và thị trường.
Để đánh giá đề xuất này hợp lý hay chưa hợp lý, trước hết cần nhìn thẳng vào nguồn gốc của khoản lỗ. Giai đoạn 2022-2023 là thời điểm thị trường năng lượng toàn cầu trải qua cơn đại địa chấn do các xung đột địa chính trị. Giá than nhập khẩu có lúc tăng gấp 3-4 lần, giá dầu thô và khí đốt phi mã, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh.
Trong cơ cấu giá thành điện hiện nay, khâu phát điện mua nguồn từ các nhà máy chiếm tới hơn 80% tổng chi phí, trong khi Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chỉ nắm giữ một phần nhỏ nguồn phát, còn lại phải mua từ các doanh nghiệp bên ngoài, bao gồm cả các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài theo giá thị trường.
Đầu vào tăng phi mã, nhưng đầu ra, tức giá bán lẻ điện sinh hoạt và sản xuất, lại bị khống chế nghiêm ngặt bởi trần giá của Nhà nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội sau đại dịch.
Sự chênh lệch giữa một đầu vào thuần túy thị trường và một đầu ra mang nặng tính hành chính chính là chiếc kéo cắt nát dòng tiền của EVN. Nếu EVN là một doanh nghiệp tư nhân, họ đã phá sản hoặc buộc phải tăng giá bán theo chi phí nguyên liệu. Nhưng là một doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo, EVN phải gánh nhiệm vụ chính trị, chấp nhận bán lỗ để nuôi sống nền sản xuất và giữ bình ổn đời sống nhân dân.
Do đó, xét về bản chất kinh tế, khoản lỗ này không hẳn là lỗ do quản trị kém, mà là một khoản chi phí an sinh xã hội, một khoản trợ giá mà EVN đã ứng trước cho nền kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng.
Xét ở góc độ này, việc Bộ Công Thương đề xuất phân bổ dần khoản chi phí chưa được bù đắp này vào giá điện ở các kỳ điều chỉnh tiếp theo là có cơ sở hợp lý về mặt kế toán và luật pháp, giúp doanh nghiệp bảo toàn vốn nhà nước, khơi thông dòng tiền để tái đầu tư.
Tuy nhiên, đề xuất này lại chưa hợp lý, thiếu thuyết phục ở cách thức tiếp cận và sự minh bạch. Người dân và doanh nghiệp có quyền hoài nghi khi chưa có một báo cáo kiểm toán độc lập nào chỉ ra toàn bộ khoản lỗ lũy kế gần 45.000 tỷ đồng là chi phí khách quan liên quan biến động giá nhiên liệu.
Liệu trong đống tiền lỗ ấy, có bao nhiêu phần trăm đến từ những góc khuất quản trị, từ chi phí tiêu hao điện truyền tải còn ở mức cao, hay các khoản đầu tư chưa hiệu quả. Thậm chí dư luận có quyền nghi ngờ liệu trong đó có những chi phí tiêu cực, tham nhũng từ các dự án đầu tư của EVN không?
Nếu không bóc tách sòng phẳng, việc hợp thức hóa đưa mọi khoản lỗ vào giá điện sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, làm triệt tiêu động lực tự thân của doanh nghiệp trong việc tiết giảm chi phí, tăng năng suất lao động. Khi người tiêu dùng bị đặt vào thế áp đặt, buộc phải gánh chịu hậu quả mà không được quyền giám sát phản biện, niềm tin xã hội sẽ bị tổn thương nghiêm trọng.
Sự minh bạch cũng được đặt ra khi ngay cả cơ quan thẩm định dự án sửa đổi Luật Điện lực cũng không nắm được số lỗ lũy kế của năm tài chính mới nhất. Theo công văn vừa được EVN gửi Bộ Công thương, nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh cải thiện đáng kết, đến hết năm 2025, số lỗ lũy lũy kế của EVN chỉ còn 5.611 tỷ. Như vậy, khoản lỗ được đề xuất vào giá điện đã giảm hơn 87% so với con số ở cuối năm 2024.
Trong cuộc cờ này, người tiêu dùng điện, gồm người dân và doanh nghiệp sản xuất, đứng trước những cái lợi và cái hại đan xen, nhưng cái hại dường như hiển hiện rõ ràng hơn trước mắt. Cái hại đầu tiên là áp lực chi phí trực tiếp. Điện là mặt hàng chiến lược, là đầu vào của mọi đầu vào. Một khi giá điện tăng để bù lỗ, dù Bộ Công Thương tính toán mức tăng mỗi đợt chỉ từ 2% đến 5% và tác động đến chỉ số giá tiêu dùng CPI rất nhỏ, nhưng trên thực tế, nó sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền.
Doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng, hóa chất, sẽ bị bào mòn biên lợi nhuận, giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chi phí sản xuất tăng sẽ đẩy giá hàng hóa tiêu dùng tăng theo, cuối cùng người chịu trận vẫn là người dân lao động với túi tiền ngày càng eo hẹp.
Ngược lại, liệu người tiêu dùng có cái lợi nào không? Nhìn từ góc độ dài hạn, cái lợi duy nhất nhưng cốt lõi là sự an toàn và ổn định của hệ thống năng lượng. Nếu không cho phép EVN thu hồi chi phí, tập đoàn này sẽ lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính, mất khả năng thanh toán cho các nhà máy phát điện, dẫn đến nguy cơ các nhà đầu tư dừng cung cấp nguồn. Nguy hiểm hơn, EVN sẽ không còn vốn đối ứng để triển khai các dự án hạ tầng truyền tải và nguồn điện trọng điểm theo Quy hoạch điện VIII, từ các dự án điện khí LNG, thủy điện tích năng cho đến hệ thống lưới điện giải tỏa công suất năng lượng tái tạo.
Một doanh nghiệp điện lực quốc gia bị âm vốn sẽ kéo theo xếp hạng tín nhiệm sụt giảm, không thể vay vốn quốc tế. Khi đó, viễn cảnh thiếu điện, cắt điện luân phiên như từng xảy ra tại miền Bắc vào mùa hè năm 2023 sẽ tái diễn. Đối với một nền kinh tế và đối với mỗi gia đình, việc phải mua điện với giá cao hơn một chút vẫn tốt hơn nhiều so với việc có tiền mà không có điện để dùng, gây tê liệt toàn bộ hoạt động đời sống và sản xuất.
Thế nhưng, việc cứ loay hoay mãi với câu chuyện tăng giá để bù lỗ chỉ là cách giải quyết phần ngọn, một giải pháp tình thế mang tính vá víu. Đâu là bài toán tổng thể cho ngành điện Việt Nam? Câu trả lời không nằm ở việc phân bổ khoản lỗ này trong bao nhiêu năm, mà nằm ở việc kiên quyết thay đổi kiến trúc của thị trường năng lượng. Bài toán tổng thể đầu tiên và tiên quyết là phải đẩy nhanh lộ trình xóa bỏ độc quyền, hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh một cách thực chất. Hiện nay, chúng ta mới chỉ thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh một phần, khâu bán lẻ và truyền tải vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào EVN.
Khi người mua chỉ có một và người bán có nhiều, hoặc ngược lại, thị trường không thể tự điều tiết. Phải tách bạch chức năng quản lý lưới điện truyền tải của Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh mua bán điện, cho phép các đơn vị bán lẻ điện độc lập cạnh tranh sòng phẳng để người dân được quyền lựa chọn nhà cung cấp như cách chúng ta đã làm rất thành công với ngành viễn thông.
Bài toán thứ hai là cải cách triệt để cơ chế giá điện theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ tình trạng bù chéo kéo dài quá lâu giữa điện sinh hoạt và điện sản xuất, cũng như giữa các vùng miền. Giá điện phải phản ánh đúng, đủ các yếu tố chi phí biến động của thị trường theo thời gian thực.
Việc điều chỉnh giá cần được tự động hóa dựa trên các chỉ số minh bạch dưới sự giám sát của một cơ quan điều tiết năng lượng độc lập, không nên phụ thuộc vào những quyết định hành chính mang tính nhạy cảm chính trị, khiến giá điện bị nén lại quá lâu rồi tăng giá giật cục. Khi giá điện vận hành theo thị trường, các tín hiệu kinh tế sẽ tự động điều tiết hành vi của xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp tự giác chuyển đổi công nghệ tiết kiệm năng lượng và thu hút các nguồn vốn tư nhân đổ vào phát triển nguồn điện mới mà không cần dựa vào bầu sữa ngân sách hay bảo lãnh của Chính phủ.
Khoản lỗ gần 45.000 tỷ đồng của EVN giống như một khối u biểu hiện của một cơ thể đang chuyển đổi nửa vời. Gánh lấy khoản lỗ đó để cứu lấy hệ thống điện là việc có thể phải làm, nhưng đó phải là chiếc vé cuối cùng cho một cơ chế cũ kỹ. Người tiêu dùng có thể chấp nhận sòng phẳng chia sẻ khó khăn với ngành điện, với điều kiện ngành điện cũng phải sòng phẳng, minh bạch và cam kết một lộ trình đổi mới triệt để, hướng tới một thị trường năng lượng an toàn, cạnh tranh và bền vững.
