close Đăng nhập

“Ô an ninh Mỹ” lung lay, châu Âu nhập cuộc đua tái vũ trang nghìn tỷ đô

Đối mặt với cái mà họ cho là mối đe dọa từ Nga và nguy cơ rạn nứt quan hệ với Mỹ, châu Âu đang tăng tốc sản xuất vũ khí để có thể tự bảo vệ mình một cách độc lập. Tuy nhiên, con đường phía trước vẫn còn dài.

Một chiếc xe tăng Leopard của quân đội Ba Lan trong cuộc tập trận đa quốc gia của NATO tại một căn cứ quân sự ở Latvia năm ngoái. Ảnh: EPA.
Một chiếc xe tăng Leopard của quân đội Ba Lan trong cuộc tập trận đa quốc gia của NATO tại một căn cứ quân sự ở Latvia năm ngoái. Ảnh: EPA.

Những động thái của Tổng thống Mỹ Donald Trump liên quan tới việc muốn “mua lại” Greenland đang làm dấy lên các câu hỏi mới trong nội bộ các đồng minh NATO của Mỹ: liệu châu Âu có đủ năng lực tự sản xuất vũ khí để chiến đấu mà không cần phụ thuộc vào Washington hay không.

Phần lớn các nhà phân tích quốc phòng và nghị sĩ đều cho rằng câu trả lời là “có”, nhưng không phải ngay lúc này.

Ngành công nghiệp quốc phòng từng bị coi là trì trệ của châu Âu đang vận hành với tốc độ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ, sản xuất ồ ạt máy bay không người lái, xe tăng, đạn dược và nhiều loại vũ khí khác, trong bối cảnh lục địa này tái vũ trang để đối phó với Nga và những bất đồng ngày càng lớn với Mỹ.

Dù vậy, châu Âu vẫn còn nhiều việc phải làm. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), chi phí để thay thế toàn bộ trang bị và lực lượng quân sự Mỹ hiện diện tại châu Âu có thể lên tới khoảng 1.000 tỷ USD. Ngoài ra, khu vực này vẫn tồn tại những khoảng trống nghiêm trọng trong năng lực sản xuất, bao gồm tiêm kích tàng hình, tên lửa tầm xa và hệ thống tình báo vệ tinh.

Dù đã tăng mạnh sản lượng quốc phòng trong những năm gần đây, ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu hiện vẫn bị phân mảnh và không thể sánh với các đối thủ Mỹ – những tập đoàn được hậu thuẫn bởi ngân sách quân sự lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, việc chi tiêu quân sự tăng vọt trên khắp châu Âu cùng với các nỗ lực mới trong nghiên cứu và phát triển đang dần đưa mục tiêu tự chủ tác chiến đến gần hơn – và trong một số trường hợp, tiến trình này diễn ra nhanh đến bất ngờ.

Cuối năm 2024, ông Clemens Kürten thành lập một công ty bán máy bay không người lái (UAV) cho quân đội châu Âu khi chưa có thiết kế hay nhân sự. Chỉ trong vòng một năm, công ty Đức này đã bán được hàng trăm chiếc UAV.

Sự cấp bách ngày càng gia tăng khi châu Âu tìm cách phản ứng không chỉ với vấn đề Greenland, mà còn với tương lai của liên minh an ninh xuyên Đại Tây Dương đã gắn kết Mỹ và châu Âu từ sau Thế chiến II.

o-an-ninh-my-lung-lay-chau-au-nhap-cuoc-dua-tai-vu-trang-nghin-ty-do-22.jpg
Các nhân viên y tế dã chiến của Quân đội Hoàng gia Đan Mạch tham gia cuộc tập trận của NATO, mang tên Resolute Warrior. Ảnh: EPA.

“Nếu người Mỹ bắt đầu giảm sự hiện diện của họ trên lục địa châu Âu… thì dĩ nhiên chúng ta phải lên kế hoạch xây dựng cái gọi là trụ cột châu Âu của NATO”, ông Andrius Kubilius, quan chức Liên minh châu Âu phụ trách tái thiết ngành công nghiệp quốc phòng, phát biểu hôm 21/1 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ.

Điều đó bao gồm cả việc thay thế những “năng lực chiến lược then chốt” như vệ tinh không gian – lĩnh vực mà châu Âu hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào Mỹ.

Trước đó, ông Trump đã nhiều lần gây sức ép buộc châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Trong bối cảnh Mỹ ngày càng tập trung vào Mỹ Latinh và châu Á, các tài sản quân sự Mỹ nhiều khả năng sẽ được tái triển khai khỏi châu Âu. Gần đây hơn, những căng thẳng giữa Nhà Trắng và châu Âu xoay quanh Ukraine và Greenland đã làm dấy lên lo ngại rằng Mỹ có thể cắt nguồn cung vũ khí, thậm chí ngăn châu Âu sử dụng các khí tài Mỹ mà họ đang sở hữu.

Hôm thứ Tư tuần trước tại Davos, Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb cho biết phi đội tiêm kích F-35 do Mỹ sản xuất của nước này không thể duy trì hoạt động lâu dài nếu thiếu linh kiện thay thế và các bản cập nhật kỹ thuật từ Mỹ. Phần Lan buộc phải tin rằng Washington sẽ tiếp tục hỗ trợ – điều mà ông cho rằng cũng phù hợp với lợi ích của Mỹ.

Các lãnh đạo ngành công nghiệp quốc phòng khẳng định quá trình chuyển hướng sang tự chủ quốc phòng đã thực sự bắt đầu.

Ông Kürten, Giám đốc điều hành Twentyfour Industries, cho biết công ty có trụ sở tại Munich của ông có thể nhanh chóng đi vào sản xuất nhờ việc các nhà đầu tư châu Âu giờ đây sẵn sàng rót vốn cho lĩnh vực quốc phòng, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng sẵn sàng tham gia, và các cơ quan mua sắm công của chính phủ địa phương hành động nhanh hơn.

“Điều này là không thể xảy ra cách đây 5 năm”, ông Kürten, vốn là một chuyên gia tư vấn UAV trước khi đồng sáng lập công ty, nói.

Quá trình này được thúc đẩy mạnh mẽ bởi mức tăng chi tiêu quân sự lớn nhất của châu Âu kể từ thời Chiến tranh Lạnh.

Theo các nhà phân tích của Bernstein, năm ngoái châu Âu đã chi khoảng 560 tỷ USD cho quốc phòng, gấp đôi so với một thập kỷ trước. Đến năm 2035, chi tiêu cho trang bị quân sự của châu Âu sẽ tương đương 80% của Lầu Năm Góc, tăng mạnh so với mức chưa đến 30% vào năm 2019.

Xu hướng này có thể gây tác động tiêu cực tới ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ nếu châu Âu chuyển sang sử dụng vũ khí “cây nhà lá vườn”. Theo nhóm nghiên cứu Agency Partners có trụ sở tại Anh, châu Âu hiện chiếm tới 10% doanh thu của các nhà sản xuất quốc phòng Mỹ.

Một dấu hiệu cho thấy sự chuyển dịch này là việc tập đoàn Rheinmetall của Đức đã mở hoặc đang xây dựng 16 nhà máy mới kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine vào tháng 2/2022. Tập đoàn quốc phòng Leonardo của Italy cũng đã tăng gần 50% nhân sự, lên 64.000 người chỉ trong hơn 2 năm.

Đến mùa xuân năm ngoái, MBDA – nhà sản xuất tên lửa lớn nhất châu Âu – đã nâng sản lượng tên lửa phòng không tầm ngắn Mistral lên 40 quả mỗi tháng, so với chỉ 10 quả trước khi chiến sự Ukraine nổ ra, đồng thời tăng gấp đôi sản lượng tên lửa chống tăng.

o-an-ninh-my-lung-lay-chau-au-nhap-cuoc-dua-tai-vu-trang-nghin-ty-do-3-5486.png
Một tên lửa do công ty MBDA của Pháp sản xuất đã được trưng bày tại Triển lãm Hàng không Paris hồi tháng 6 năm ngoái. Ảnh: Bloomberg.

Các công ty sản xuất UAV như Twentyfour Industries mọc lên khắp châu Âu. Estonia – một quốc gia Baltic nhỏ bé – hiện là một trong những nước dẫn đầu thế giới về các mẫu drone mặt đất.

Trong một số lĩnh vực, sản xuất quốc phòng châu Âu thậm chí đã vượt Mỹ. Riêng Rheinmetall sắp có khả năng sản xuất 1,5 triệu viên đạn pháo cỡ 155 mm mỗi năm, nhiều hơn tổng sản lượng của toàn bộ ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ.

Châu Âu gần như tự cung tự cấp hoàn toàn về xe bọc thép, với xe tăng Leopard của Đức là loại xe tăng phổ biến nhất thế giới. Khu vực này cũng tự sản xuất toàn bộ tàu chiến và tàu ngầm, vốn bán chạy hơn các sản phẩm tương đương của Mỹ trên thị trường toàn cầu.

Một số dấu hiệu cho thấy các nước châu Âu đã bắt đầu ưu tiên vũ khí nội địa thay vì vũ khí Mỹ. Giai đoạn 2020–2024, 79% nhập khẩu quốc phòng của Đan Mạch đến từ Mỹ. Nhưng năm ngoái, khi ông Trump gia tăng áp lực buộc Copenhagen bán Greenland, hơn một nửa các hợp đồng mua vũ khí của Đan Mạch lại đến từ châu Âu. Chính phủ Đan Mạch phủ nhận việc đây là một chủ trương có chủ đích.

Dù vậy, theo ông Pieter Wezeman của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), thời khắc mang tính bước ngoặt khi châu Âu thực sự rời xa Mỹ vẫn chưa đến.

Một số quan chức quốc phòng châu Âu cho rằng các công ty trong khu vực chưa hành động đủ nhanh, đặc biệt trong lĩnh vực hàng không vũ trụ.

Hãng Dassault của Pháp hiện tồn đọng đơn hàng 220 tiêm kích Rafale. Năm ngoái, công ty chỉ giao được 2 chiếc mỗi tháng, với thời gian chế tạo mỗi máy bay lên tới 3 năm; Dassault cho biết sẽ nâng lên 3 chiếc mỗi tháng trong năm nay.

Việc Ba Lan mua vũ khí từ Hàn Quốc cho thấy cả châu Âu lẫn Mỹ đều chưa tăng tốc sản xuất quốc phòng đủ nhanh, Tổng Thư ký NATO ông Mark Rutte nhận định tại Davos.

Ông Roberto Cingolani, Giám đốc điều hành Leonardo, cho rằng sự phân mảnh là một rào cản lớn đối với quá trình tái vũ trang nhanh chóng của châu Âu.

“Mỗi quốc gia đều muốn có xe tăng riêng, máy bay riêng, tàu chiến riêng. Sự phân tán trong đầu tư, R&D và mua sắm rõ ràng không có lợi cho việc tái vũ trang châu Âu”, ông nói.

Ngoài ra, vẫn tồn tại những khoảng trống năng lực đáng kể.

dassault-rafale.jpg
Chiến đấu phản lực Dassault Rafale của Pháp. Ảnh: AFP.

Châu Âu còn ít nhất 10 năm nữa mới có thể tự sản xuất tiêm kích tàng hình. Trong khi đó, nhiều trong số 13 quốc gia châu Âu đã mua hoặc đặt mua tiêm kích F-35 của Mỹ vẫn tiếp tục mở rộng đội bay.

Châu Âu cũng tụt hậu so với Mỹ về tình báo vệ tinh và phụ thuộc chủ yếu vào các công ty Mỹ trong lĩnh vực điện toán đám mây phục vụ quản lý dữ liệu chiến trường. Dù Đức đã phát minh ra tên lửa đạn đạo cách đây hơn 80 năm, châu Âu hiện gần như không có năng lực sản xuất loại vũ khí then chốt này cũng như các tên lửa tầm rất xa khác.

Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm xa của Mỹ vẫn là lựa chọn ưu tiên của nhiều quốc gia châu Âu.

Tại Ukraine, dù Kiev đã giảm mức độ phụ thuộc vào vũ khí Mỹ, các hệ thống phòng không như Patriot vẫn vô cùng quan trọng, và Ukraine không thể có đủ số lượng tên lửa đánh chặn cho các hệ thống này, theo ông Mykola Bielieskov, nhà phân tích thuộc tổ chức Come Back Alive.

Một số quốc gia châu Âu hiện đang nỗ lực khắc phục các điểm yếu. Nhiều dự án đang được triển khai nhằm sản xuất tên lửa có tầm bắn trên 1.000 dặm sau năm 2030, và Vương quốc Anh gần đây đã xây dựng chòm vệ tinh quân sự riêng sau thời gian dài phụ thuộc vào Mỹ. Các nước châu Âu khác cũng đang đẩy mạnh đưa vệ tinh lên không gian. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron gần đây cho biết 2/3 thông tin tình báo vệ tinh của Ukraine hiện đến từ Pháp.

“Liệu châu Âu có thể tự vũ trang? Có, nhưng cần thời gian”, ông Matthew Savill, Giám đốc Viện Nghiên cứu RUSI, kết luận. “Quy mô hiện vẫn chưa đủ, và chúng ta phải chấp nhận rằng ở một số lĩnh vực, năng lực của châu Âu vẫn chưa thực sự ngang tầm”.

Theo WSJ

Thế giới