Nhiều quốc gia Đông Nam Á lựa chọn mở cửa, “sống chung với COVID-19”

VietTimes – Nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á đã nhận ra rằng, họ không thể áp dụng mãi các lệnh hạn chế vốn gây ảnh hưởng nặng nề tới nền kinh tế để dập dịch.

Người dân Indonesia xếp hàng chờ tiêm vaccine ngừa COVID-19 (Ảnh: EPA)

Người dân Indonesia xếp hàng chờ tiêm vaccine ngừa COVID-19 (Ảnh: EPA)

Ở các nhà máy tại Malaysia, các cửa hiệu cắt tóc ở Manila (Philippines) hay các tòa nhà công sở ở Singapore, nhà quản lý đang thúc đẩy dần kế hoạch mở cửa trở lại, tìm cách cân bằng giữa phòng chống dịch COVID-19 với vận hành nền kinh tế. Điều này dẫn tới hàng loạt những biện pháp thử nghiệm được đem ra áp dụng, như khoanh vùng để phong tỏa, nhân viên làm việc tại nhà, hay chỉ cho phép các lao động đã được tiêm vaccine đi làm…

Trái ngược với ở châu Âu và Mỹ - những nơi đã chuyển dịch sang con đường tái mở cửa – Đông Nam Á có tỷ lệ tiêm chủng khá thấp, bởi vậy mà đang là một trong số những khu vực chịu tổn thương nhất nhiều nhất do biến chủng Delta. Nhưng do tình hình tài chính quốc gia bị bóp nghẹt do các đợt bùng phát dịch COVID-19 trước đó, nhiều nước nhận ra rằng họ không thể cứ áp dụng mãi lệnh phong tỏa được.

“Đó là sự cân bằng rất khó đạt được giữa sinh mạng và cuộc sống” – Krystal Tan, chuyên gia kinh tế thuộc Australia & New Zealand Banking Group, cho hay; thêm rằng ngay cả Singapore là nước có tỷ lệ tiêm chủng hàng đầu thế giới vẫn chật vật với mức tăng đột biến các ca nhiễm mới.

Nguy cơ của việc mở cửa trở lại càng cao hơn đối với phần còn lại của khu vực, bởi có tỷ lệ tiêm chủng thấp hơn so với Singapore; theo Tan.

Việc đóng cửa công xưởng của Đông Nam Á đã gây ra ảnh hưởng trên toàn thế giới, tạo ra sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng, khi mà các hãng chế tạo xe như Toyota bị buộc phải cắt giảm sản lượng, còn các hãng bán lẻ quần áo như Abercrombie & Fitch cảnh báo tình hình có thể “vượt tầm kiểm soát”.

Nhiều quốc gia Đông Nam Á lựa chọn mở cửa, “sống chung với COVID-19” ảnh 1

COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề tới lĩnh vực sản xuất của Đông Nam Á (Ảnh: DPA)

Tỷ lệ tử vong do COVID-19 ở nhiều quốc gia Đông Nam Á đã vượt qua mức trung bình của toàn cầu, khiến họ bị tụt xuống những thứ hạng chót trong bảng xếp hạng ứng phó với COVID mà Bloomberg thực hiện.

Chính quyền nhiều nước ngày càng lo ngại về tầm ảnh hưởng kinh tế nếu như các biện pháp hạn chế phòng dịch được áp dụng quá lâu, trong khi tốc độ tiêm chủng lại chậm. Malaysia đã phải giảm dự báo đà tăng trưởng trong năm 2021 xuống một nửa, chỉ còn 3 – 4% do số ca nhiễm COVID-19 trong ngày tăng kỷ lục. Trong khi hy vọng vực lại ngành công nghiệp du lịch của Thái Lan cũng nhanh chóng bị dập tắt.

Ngay cả ở những nước có mức dự báo ấn tượng hơn – Singapore với dự báo tăng trưởng ở mức 7%, hay nước ta với mức dự báo 6% - sức ép giải quyết các vấn đề về chuỗi cung ứng, hay tránh làm mất động lực của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên cấp thiết.

Theo Weliian Wiranto, chuyên gia kinh tế đến từ Oversea-Chinese Banking Corp, cho rằng các nước Đông Nam Á đang bị hạ gục dần bởi ảnh hưởng kinh tế từ các đợt phong tỏa liên tiếp cùng với cảm giác mệt mỏi của người dân khi chứng kiến cuộc khủng hoảng kéo dài.

“Mọi hy vọng về viễn cảnh mở cửa trở lại, từ đó vực dậy các hoạt động thương mại và du lịch ở nhiều nước ASEAN, vẫn chỉ là một giấc mơ” – Wiranto nói.

Sự kiên nhẫn của người dân trên khắp khu vực cũng đang cạn dần, bởi thực tế là họ phải chống chọi với COVID-19 lâu hơn so với phần lớn các khu vực khác trên thế giới. Ở Malaysia, sự bất bình của người dân chính là một nhân tố làm thay đổi chính quyền ở nước này, khi các lệnh phong tỏa kéo dài khiến cho nhiều người mất công ăn việc làm, trong khi số ca nhiễm lại không giảm.

Ở Thái Lan, phong trào biểu tình phản đối chính phủ có từ trước khi COVID-19 xuất hiện giờ biến thành tuần hành liên quan tới đại dịch. Ở Singapore và Philippines, giới doanh nghiệp ngày càng nêu rõ ràng hơn về những khó khăn dài hạn mà họ phải đối mặt do sự thiếu chắc chắn của các chính sách mà chính phủ đưa ra.

Kết quả là, ngày càng có nhiều nước ở Đông Nam Á chuyển hướng tiếp cận, coi COVID-19 như một dịch bệnh địa phương, và một số nước như Malaysia, Indonesia và Thái Lan bắt đầu học theo chiến lược “sống chung với virus” của Singapore.

Indonesia, nền kinh tế lớn nhất khu vực, rất tập trung vào vấn đề dài hạn. Các Bộ trưởng của nước này đang tìm cách tăng cường các quy định như đeo khẩu trang bắt buộc dài hạn (kéo dài nhiều năm) thay vì cứ thỉnh thoảng lại áp dụng biện pháp hạn chế di chuyển của người dân. Họ cũng đưa ra “những lộ trình” áp dụng cho từng lĩnh vực cụ thể, như công sở và trường học, để hình thành dần các quy định vĩnh cửu trong trạng thái bình thường mới.

Việc báo cáo về số ca nhiễm COVID-19 mỗi ngày giờ trở nên ít quan trọng hơn, so với việc báo cáo về mức độ trầm trọng của nó. Điều này đặc biệt đúng với 2 quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng cao nhất khu vực – Singapore (80%) và Malaysia (khoảng 50%).

Ở những nơi đang có lệnh phong tỏa toàn quốc hoặc theo khu vực, Philippines đang tìm cách áp dụng hạn chế đi lại ở những vùng cụ thể hơn – như từng con phố hay thậm chí từng hộ gia đình.

Ở Jakarta, Indonesia, chỉ có những người có chứng nhận đã tiêm vaccine mới có thể đi vào các khu mua sắm hay đền chùa. Các nhà hàng ở Singapore yêu cầu kiểm tra tình trạng tiêm chủng của khách hàng.

Mặc dù chiến lược này có thể giảm tổn thất đối với nền kinh tế, nhưng cũng có có rủi ro về phân bổ vaccine không công bằng – ví dụ như ở Malaysia, nơi vaccine được ưu tiên cho những khu vực kinh tế quan trọng thay vì những khu vực nghèo – có thể không có lợi cho những người dân thu nhập thấp.