close Đăng nhập

"Giải mã" lý do Starlink không đặt 4 trạm mặt đất ở vùng lõm sóng của Việt Nam

Lý do Starlink không đặt trạm mặt đất tại các vùng lõm sóng mà lại lựa chọn những khu vực hạ tầng phát triển nằm ở nguyên lý vận hành Internet vệ tinh và quy định pháp luật Việt Nam, khác với hình dung phổ biến của nhiều người.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x
Tốc độ ấn tượng của dịch vụ Internet vệ tinh Starlink (Ảnh: The Verge)
Tốc độ ấn tượng của dịch vụ Internet vệ tinh Starlink (Ảnh: The Verge)

Vì sao không đặt trạm mặt đất ở vùng lõm sóng?

Liên quan đến việc Starlink lựa chọn đặt 4 trạm mặt đất (gateway) tại Phú Thọ, Đà Nẵng và TP.HCM, trong đó TP.HCM có 2 trạm, ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Internet Việt Nam cho biết việc lựa chọn vị trí đặt trạm không nhất thiết phải ở vùng lõm sóng như nhiều người lầm tưởng. Nhà cung cấp dịch vụ có lẽ có tiêu chí riêng của họ về việc chọn địa điểm đặt trạm mặt đất, trên cơ sở các yếu tố kỹ thuật và kinh tế.

Thực tế, theo quy định pháp luật viễn thông Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ Internet vệ tinh như Starlink bắt buộc phải thiết lập trạm mặt đất (gateway, hay còn gọi là Earth Station) trong lãnh thổ Việt Nam để kết nối mạng.

Về nguyên lý hoạt động, dữ liệu truy cập Internet sẽ đi theo chu trình: từ thiết bị người dùng kết nối lên vệ tinh quỹ đạo thấp của Starlink, sau đó truyền xuống trạm mặt đất đặt tại Việt Nam rồi tiếp tục kết nối tới các hệ thống Internet trong nước hoặc quốc tế như mạng Internet thông thường.

Cho nên Trạm mặt đất (gateway) sẽ được chọn ở những điểm thuận lợi cho việc kết nối vào mạng Internet trong nước của Việt Nam, cũng như kết nối đi Internet quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

“Các trang web, nội dung của Việt Nam thường được đặt ở các trung tâm dữ liệu nằm ở Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng. Vì thế trạm mặt đất gần các điểm đó sẽ ít nhiều thuận lợi hơn cho việc kết nối đến các trung tâm dữ liệu trong nước, cũng như kết nối đi Internet quốc tế”, ông Bình nói với VietTimes.

Chuyên gia cũng cho biết vị trí gateway thực tế không ảnh hưởng nhiều tới trải nghiệm người dùng cuối. Để sử dụng dịch vụ Starlink, người dùng chỉ cần trang bị bộ thiết bị đầu cuối gồm ăng-ten và thiết bị kết nối, lắp đặt tại vị trí thông thoáng hướng lên bầu trời là có thể truy cập Internet.

Trong cuộc diện kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính (ngày 6/9/2024), Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn SpaceX Tim Hughes bày tỏ mong muốn Starlink góp phần phủ sóng Internet tới 100% dân số Việt Nam.

Trong cuộc diện kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính (ngày 6/9/2024), Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn SpaceX Tim Hughes bày tỏ mong muốn Starlink góp phần phủ sóng Internet tới 100% dân số Việt Nam.

Thậm chí, tại một số quốc gia có quy định pháp lý cởi mở hơn, nhà cung cấp thậm chí không bắt buộc phải đặt trạm mặt đất trong lãnh thổ. Khi đó, lưu lượng truy cập của người dùng có thể được định tuyến qua bất kỳ gateway nào trong mạng lưới toàn cầu do nhà cung cấp dịch vụ quyết định.

Sự xuất hiện của dịch vụ Internet vệ tinh quỹ đạo thấp như Starlink tại Việt Nam được đánh giá sẽ mở rộng đáng kể khả năng kết nối số, đặc biệt tại những khu vực còn hạn chế về hạ tầng viễn thông truyền thống.

Mảnh ghép bổ sung cho hạ tầng viễn thông

Theo ông Vũ Thế Bình, Starlink nhìn chung không cạnh tranh trực tiếp với Internet cáp quang cố định hay dịch vụ di động băng rộng 4G, 5G vốn đang chiếm ưu thế tại Việt Nam. Thay vào đó, dịch vụ này chủ yếu cạnh tranh với các hệ thống Internet vệ tinh truyền thống sử dụng vệ tinh địa tĩnh.

Internet vệ tinh phát huy hiệu quả rõ nhất tại các khu vực “lõm” hạ tầng, nơi chi phí triển khai cáp quang hoặc trạm phát sóng di động rất lớn.

Về mức giá, lãnh đạo Hiệp hội Internet Việt Nam cho biết hiện chưa có thông tin chính thức cho thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, tham chiếu từ một số quốc gia ASEAN như Philippines hay Singapore, chi phí Starlink nhiều khả năng sẽ cao hơn đáng kể so với dịch vụ FTTx (Intetnet cáp quang) hoặc 4G, 5G nếu so sánh trên cùng băng thông hoặc dung lượng sử dụng.

starlink-for-boats-high-speed-17718137988211995484459.jpg
Dịch vụ Internet vệ tinh giúp bảo đảm kết nối tại các khu vực vùng lõm tín hiệu, vùng sâu vùng xa hoặc trong các tình huống thiên tai, sự cố hạ tầng mạng mặt đất.

Trước lo ngại Starlink có thể đạt quy mô tới 600.000 thuê bao và ảnh hưởng đến bài toán hoàn vốn của các doanh nghiệp đã đầu tư lớn vào cáp quang và 5G, ông Bình cho rằng tác động tổng thể là không đáng kể.

Dịch vụ vệ tinh chủ yếu phục vụ những khu vực mà hạ tầng mặt đất khó tiếp cận. Tuy nhiên, trong một số địa bàn cụ thể vùng sâu, vùng xa, Internet vệ tinh có thể khiến thời gian hoàn vốn cục bộ của các dự án 4G, 5G kéo dài hơn do chi phí đầu tư tại đây vốn rất lớn.

Ở góc độ thị trường, ông Bình nhận định quan hệ giữa Starlink và các nhà mạng Việt Nam nhiều khả năng phát triển theo hướng hợp tác thay vì cạnh tranh trực diện. Internet vệ tinh có thể đóng vai trò bổ sung vùng phủ, giúp các doanh nghiệp viễn thông mở rộng dịch vụ tới những khu vực mà hạ tầng truyền thống chưa thể vươn tới.

Đối với khả năng doanh nghiệp Việt tự phát triển hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp “Make in Vietnam”, ông Bình cho rằng đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực tài chính và công nghệ rất lớn, hiện mới chỉ có số ít quốc gia trên thế giới triển khai.

Trong ngắn hạn, Việt Nam được đánh giá sẽ là thị trường ứng dụng nhanh Internet vệ tinh nhằm giải quyết các bài toán thực tiễn trong nước. Việc trở thành trung tâm gateway hay digital hub khu vực vẫn là mục tiêu trung và dài hạn.

Nhìn tổng thể, Internet vệ tinh không thay thế hạ tầng viễn thông hiện hữu mà đóng vai trò lớp kết nối bổ sung. Trong bối cảnh Internet Việt Nam đã có độ phủ rộng với chi phí hợp lý, sự tham gia của Starlink được kỳ vọng sẽ lấp đầy các khoảng trống kết nối, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ số cho người dân tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo và nâng cao năng lực ứng phó trước các tình huống khẩn cấp.

Internet vệ tinh có thể đắt gấp 5 - 10 lần giá dịch vụ cáp quang tại Việt Nam

Theo tìm hiểu của VietTimes, tại các thị trường đã triển khai, dịch vụ Internet vệ tinh Starlink hiện có mức giá cao hơn đáng kể so với Internet cáp quang và mạng di động băng rộng.

Tại Đông Nam Á, Philippines – quốc gia đầu tiên đưa Starlink vào khai thác - đang áp dụng mức thuê bao phổ biến khoảng 2.700 - 3.800 peso/tháng, tương đương 1,1 - 1,6 triệu đồng, chưa bao gồm chi phí thiết bị đầu cuối khoảng 12 - 13 triệu đồng. Ở Singapore, gói dịch vụ dân dụng có giá khoảng 110 USD/tháng, tương đương gần 2,7 triệu đồng, trong khi tại Malaysia mức phí có thể lên tới 150 USD/tháng đối với các gói phục vụ doanh nghiệp hoặc kết nối ngoài khơi.

Tại Mỹ, Nhật Bản và nhiều quốc gia châu Âu, giá thuê bao Starlink phổ biến dao động từ 70 - 120 USD/tháng. Mặt bằng giá quốc tế cho thấy Internet vệ tinh hiện chưa cạnh tranh trực tiếp với hạ tầng Internet mặt đất mà chủ yếu phục vụ các khu vực chưa có cáp quang, vùng sâu, vùng xa, hải đảo hoặc nhu cầu kết nối dự phòng.

Từ kinh nghiệm khu vực, nhiều chuyên gia dự đoán nếu được thương mại hóa tại Việt Nam, giá dịch vụ Starlink có thể nằm trong khoảng 1 - 2 triệu đồng/tháng.

Trong khi đó, Internet cố định tại Việt Nam đang thuộc nhóm có chi phí thấp trên thế giới. Theo bảng giá của các doanh nghiệp viễn thông lớn như Viettel, VNPT và FPT Telecom, dịch vụ cáp quang hộ gia đình hiện phổ biến từ 165.000 - 300.000 đồng/tháng tùy tốc độ.

Các gói 100 - 300 Mbps có giá khoảng 165.000 - 220.000 đồng/tháng, trong khi các gói tốc độ cao 300 Mbps đến 1 Gbps dao động khoảng 200.000 - 350.000 đồng/tháng. So sánh tương quan cho thấy Internet vệ tinh có thể cao gấp 5 - 10 lần Internet cáp quang hiện nay, vì vậy được xem là lớp hạ tầng bổ sung thay vì thay thế mạng viễn thông truyền thống tại khu vực đô thị.

Hạ tầng số

Trang web giả mạo datlichbhxh[.]com có giao diện tương tự trang chính thức. Ảnh: BHXHVN

Cảnh báo website giả mạo BHXH Việt Nam

BHXH Việt Nam vừa phát đi cảnh báo về việc xuất hiện website giả mạo, lợi dụng hình thức “đặt lịch làm việc” để thu thập thông tin cá nhân, lừa đảo và chiếm đoạt tài sản.