Vì sao Việt Nam không cho bệnh nhân COVID-19 điều trị tại nhà?

VietTimes – Nếu Việt Nam áp dụng chiến lược điều trị bệnh nhân COVID-19 tại nhà giống nước ngoài thì việc kiểm soát dịch cũng như công tác điều trị sẽ gặp khó khăn.

BS. CKII. Nguyễn Trung Cấp – Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (Ảnh - Tuấn Dũng)

BS. CKII. Nguyễn Trung Cấp – Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (Ảnh - Tuấn Dũng)

Đây là nhận định của BS. CKII. Nguyễn Trung Cấp – Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương – về vấn đề điều trị cho bệnh nhân COVID-19 ở nước ta.

Lý giải nguyên nhân vì sao Việt Nam không cho bệnh nhân COVID-19 điều trị tại nhà như ở nước ngoài, BS. Cấp cho hay: Thực tế, ở những nước có số lượng bệnh nhân quá lớn, dịch COVID-19 lưu hành rộng rãi trong cộng đồng thì sẽ áp dụng chiến lược điều trị bệnh nhân COVID-19 tại nhà. Khi bệnh nhân mắc bệnh nặng thì mới đến bệnh viện.

Vì sao Việt Nam không cho bệnh nhân COVID-19 điều trị tại nhà? ảnh 1

Theo BS. Cấp, Việt Nam đã kiểm soát được các ca mắc COVID-19 ngoài cộng đồng (Ảnh - Tuấn Dũng)

Hiện, Việt Nam đã kiểm soát được các ca bệnh ngoài cộng đồng, số bệnh nhân chưa vượt quá khả năng điều trị nên ưu tiên chiến lược điều trị với tất cả bệnh nhân tại bệnh viện. Đa phần bệnh nhân mắc COVID-19 đều mắc bệnh nhẹ ở tuần đầu tiên, sang tuần 2 thì bệnh bắt đầu diễn biến nặng. Nếu phát hiện sớm thì tỉ lệ bệnh nhân rất nặng và nguy kịch sẽ giảm.

“Nếu Việt Nam áp dụng chiến lược điều trị bệnh nhân COVID-19 tại nhà giống nước ngoài thì sẽ vấp phải 2 vấn đề: Thứ nhất là nguy cơ bệnh nhân lây nhiễm cho người thân trong gia đình rất cao, nhất là trong gia đình sống chung 3-4 thế hệ có người già trẻ nhỏ. Nếu người già mắc bệnh nền lại nhiễm thêm SARS-CoV-2 thì rất nguy hiểm. Hơn nữa, bệnh nền nếu lây sang người tuổi cao, có bệnh nền rất nguy hiểm. Ngoài ra, khi tự điều trị COVID-19 tại nhà thì bệnh nhân rất khó phát hiện ra sự thay đổi bệnh lý để kiểm soát sớm, chỉ lúc nào bệnh nặng mới vào viện thì hiệu quả điều trị rất thấp” – BS. Cấp nói.

Nhận định về đợt dịch COVID-19 lần thứ 4, BS. Cấp cho biết: So với các đợt dịch COVID-19 trước, đợt dịch lần này 2 điểm khác biệt. Điểm khác biệt đầu tiên là số lượng bệnh nhân trong đợt dịch này lớn nên đã tạo ra sức ép với hệ thống điều trị.

Điểm khác biệt thứ 2 là chủng virus SARS-CoV-2 trong đợt dịch lần này là chủng ở Ấn Độ nên các diễn biến lâm sàng ở người bệnh nhanh hơn những chủng khác, tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng phản ứng viêm quá mức cao hơn các đợt dịch trước ở các chủng virus khác. Vì thế, các biện pháp can thiệp sẽ nhiều hơn như: lọc máu hấp phụ cytokine, ECMO,… trở thành gánh nặng lớn đối với các bác sĩ hồi sức cấp cứu trong quá trình điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19.

Về mặt di truyền học, virus luôn luôn có sự biến đổi. Khi một người nhiễm 2 chủng virus khác nhau có thể dẫn đến sự tổ hợp yếu tố di truyền của cả 2 chủng cũ để tạo thành chủng virus mới. Tuy nhiên, về mặt lâm sàng, tôi chưa nhận thấy sự khác biệt nhiều giữa chủng virus biến đổi với chủng virus nguyên gốc ở Ấn Độ. Vì thế, các bác sĩ vẫn áp dụng những chiến lược điều trị cũ cho bệnh nhân.

Trong đợt dịch lần này, số lượng bệnh nhân mắc COVID-19 nặng lớn, tỷ lệ bệnh nhân có phản ứng viêm cao nên các bác sĩ phải áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật để điều trị cho bệnh nhân. Riêng ở Bắc Ninh, tôi cùng các bác sĩ chú trọng nâng cao năng lực điều trị của tuyến điều trị ban đầu. Khi các bệnh viện dã chiến điều trị tốt, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh nặng sẽ giảm, Khoa Hồi sức cấp cứu ở bệnh viện tỉnh sẽ được giảm áp lực, không phải chuyển bệnh nhân về bệnh viện ở tuyến trung ương.

Hiện, BS. Cấp cùng đồng nghiệp đã xây dựng chiến lược để đáp ứng 3.000 bệnh nhân COVID-19 vào viện đồng loạt, các đơn vị dự kiến sẽ triển khai đã đảm bảo tốt các yếu tố về hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật và con người.

Tại Bắc Giang, các đồng nghiệp của BS. Cấp cũng đang nỗ lực mở rộng bệnh viện dã chiến cũng như đơn vị hồi sức cấp cứu. Với tình hình dịch và số bệnh nhân hiện tại thì chưa vượt quá khả năng đáp ứng của đội ngũ điều trị.