Bộ Chiến tranh Mỹ đã công bố kế hoạch cấp ngân sách 1,55 tỷ USD trong tài khóa 2027 để mua các hệ thống máy bay cảnh báo sớm và chỉ huy trên không (AEW&C) E-7 Wedgetail, sau những tranh cãi xoay quanh việc cơ quan này từng tìm cách hủy kế hoạch mua sắm vào năm 2025.
Bộ trưởng Không quân Mỹ Troy Meink hồi tháng 5 thông báo với Ủy ban Quân vụ Hạ viện rằng một khoản điều chỉnh ngân sách khoảng 1,5 tỷ USD dự kiến sẽ được bổ sung. Những thông tin gần đây cho thấy khoản tiền này có thể bao gồm 651 triệu USD chuyển từ ngân sách mua sắm máy bay của Hải quân Mỹ và 899 triệu USD từ chương trình mua sắm khác của Không quân, tạo thành tổng số 1,55 tỷ USD.
Động thái này phản ánh xu hướng các chương trình của Không quân Mỹ đang được ưu tiên hơn so với Hải quân. Chương trình tiêm kích thế hệ thứ sáu F/A-XX rất cấp thiết của Hải quân, vốn từng được đánh giá có vị thế vững chắc hơn chương trình tương tự của Không quân, đã bị cắt ngân sách vào năm 2025 để chuyển sang phát triển tiêm kích F-47 của Không quân.
Việc mua E-7 được xem là đặc biệt quan trọng do máy bay cảnh báo sớm E-3 hiện nay của Không quân Mỹ đang ngày càng lỗi thời. Đội bay E-3 cũng chịu mức độ hao mòn lớn, khiến tỷ lệ sẵn sàng chiến đấu giảm mạnh trong khi chi phí vận hành tăng cao.
Bên cạnh đó, năng lực ngày càng vượt trội của các máy bay cảnh báo sớm Trung Quốc như KJ-500 và KJ-3000 càng củng cố quan điểm rằng Washington cần nhanh chóng nâng cấp khả năng cảm biến trên không.
Các đơn vị tiêm kích Mỹ phụ thuộc vào máy bay cảnh báo sớm nhiều hơn đáng kể so với lực lượng Trung Quốc hoặc Nga, bởi tiêm kích Trung Quốc và Nga thường được trang bị radar lớn hơn và mạnh hơn. Ví dụ, radar trên tiêm kích F-35 chỉ có kích thước bằng khoảng 1/3 radar trên các dòng tiêm kích J-15B và J-16 của Trung Quốc.
Không quân Mỹ bắt đầu thể hiện sự quan tâm lớn hơn tới E-7 sau các cuộc chạm trán với tiêm kích tàng hình thế hệ thứ năm J-20 của Trung Quốc. Các sĩ quan cấp cao Mỹ cảnh báo hệ thống E-3 không còn đủ khả năng theo dõi và hỗ trợ tác chiến trước những máy bay hiện đại như vậy.
Tướng Kenneth Wilsbach, Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương của Mỹ, từng nói vào tháng 3/2022 sau cuộc chạm trán đầu tiên giữa F-35 và J-20 rằng các máy bay E-3 trong khu vực đang gặp vấn đề nghiêm trọng về tuổi thọ và công nghệ.
Ông cho biết các hệ thống cảm biến mà E-3 sử dụng “không còn thực sự phù hợp với thế kỷ 21”, đặc biệt khi đối đầu với những nền tảng tàng hình như J-20.
Theo ông Wilsbach, E-3 không thể phát hiện các mục tiêu như J-20 ở khoảng cách đủ xa để tạo lợi thế cho lực lượng tấn công.
“Đó là lý do tôi muốn có E-7,” ông nói.
Sự phát triển nhanh chóng của khả năng tàng hình trên J-20, cùng kế hoạch Trung Quốc đưa các tiêm kích thế hệ thứ sáu đầu tiên vào biên chế trong đầu thập niên 2030, càng khiến nhu cầu thay thế E-3 trở nên cấp bách.
Dù E-7 có chi phí thấp hơn đáng kể so với E-3, hệ thống này sử dụng radar nhỏ hơn nhiều, có kích thước tương đương máy bay cảnh báo sớm hạng trung KJ-500 của Trung Quốc nhưng kém hơn đáng kể so với mẫu mới KJ-3000.
Sự xuất hiện của KJ-3000 đã khiến giới phân tích phương Tây lo ngại, bởi hệ thống này có thể giúp Trung Quốc tiếp tục mở rộng lợi thế về năng lực cảm biến trên không.
Một báo cáo gần đây của Lầu Năm Góc cũng đề cập tới khả năng KJ-3000 sẽ tạo ra bước tiến lớn trong lĩnh vực này.
Khác với kiến trúc radar mảng pha ba mặt truyền thống trên KJ-500, KJ-3000 được cho là sử dụng hệ thống radar kỹ thuật số dạng tích hợp tiên tiến, cho phép bao phủ 360 độ thực sự với độ nhạy và khả năng xử lý cao hơn.
Trong khi KJ-500 sử dụng các mảng radar cố định, KJ-3000 được cho là trang bị hệ thống theo dõi lai với mái vòm xoay chứa radar mảng pha điện tử chủ động (AESA). Thiết kế này giúp tối đa hóa kích thước ăng-ten, tăng khả năng phát hiện mục tiêu tàng hình ở khoảng cách xa, đồng thời cho phép quét toàn bộ không gian và tập trung năng lượng vào các khu vực quan trọng.
Tuy nhiên, do ngân sách Không quân Mỹ đang chịu nhiều sức ép, Washington hiện chưa có kế hoạch tài trợ một hệ thống tương đương KJ-3000 của Trung Quốc.
Theo MW