close Đăng nhập

Bên trong cuộc "đại tu" cơ chế phát triển công nghệ chiến lược

Danh mục công nghệ chiến lược được tinh gọn từ 11 xuống 10 nhóm. Tuy nhiên, điểm mới lớn nhất không nằm ở số lượng mà ở cách tiếp cận: Việt Nam chuyển từ tư duy lựa chọn công nghệ sang giải các bài toán lớn để xác định công nghệ ưu tiên đầu tư.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Bài toán quốc gia quyết định công nghệ chiến lược

Sau một năm triển khai, Chính phủ đã rà soát và điều chỉnh Danh mục công nghệ chiến lược. Từ ngày 1/7/2026, danh mục mới chính thức có hiệu lực, giảm từ 11 xuống còn 10 nhóm công nghệ.

Danh mục mới tiếp tục bao quát các lĩnh vực then chốt như công nghệ số, công nghệ mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, công nghệ biển, đại dương và lòng đất, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Nếu trước đây việc lựa chọn công nghệ ưu tiên chủ yếu dựa trên xu hướng phát triển của thế giới thì giai đoạn mới đặt yêu cầu công nghệ phải trực tiếp giải quyết các bài toán tăng trưởng, năng suất, an ninh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) - cơ quan chủ trì tham mưu xây dựng và rà soát Danh mục công nghệ chiến lược - điểm đổi mới không chỉ dừng ở việc điều chỉnh danh mục mà còn tập trung vào cách thức triển khai.

Đáng chú ý, cách tiếp cận đã thay đổi. Nếu trước đây việc xác định công nghệ chiến lược chủ yếu đi từ công nghệ thì nay Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn cách tiếp cận bắt đầu từ các bài toán lớn của quốc gia, ngành và địa phương.

“Mục tiêu là lựa chọn được những công nghệ và sản phẩm thực sự chiến lược, là những sản phẩm Việt Nam cần và có khả năng làm được, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và chất lượng”, ông Hoàng Anh Tú trả lời VietTimes.

hoang-anh-tu-7212.jpg
Ông Hoàng Anh Tú cho biết danh mục công nghệ chiến lược không chỉ được tinh gọn hơn mà còn bổ sung thêm các sản phẩm công nghệ mà Việt Nam đang có lợi thế.

Trong đó, phải xác định bài toán lớn của quốc gia, ngành hoặc lĩnh vực. Đây là những vấn đề nếu được giải quyết sẽ tạo ra tác động lớn, rõ ràng và có thể đo lường được. Từ đó, cơ quan quản lý mới lựa chọn sản phẩm công nghệ chiến lược tác động trực tiếp, đồng thời xác định công nghệ nguồn, công nghệ cốt lõi cần đầu tư phát triển.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, cách tiếp cận này sẽ được áp dụng đối với những ngành có đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế. Thay vì phát triển sản phẩm mà không biết sản phẩm đó phục vụ cho việc gì, việc triển khai danh mục công nghệ chiến lược sẽ gắn với các bài toán thực tiễn của các bộ, ngành và lĩnh vực.

"Chúng ta phải đi từ các bài toán của thực tiễn, các bài toán của ngành. Ví dụ ngành sản xuất có bài toán về số hóa sản xuất, bất động sản có bài toán khác, các ngành khác cũng có những bài toán riêng. Sau khi xác định được bài toán thì mới biết cần phát triển sản phẩm công nghệ gì để giải quyết", ông Tú nói.

Cách tiếp cận này cũng giúp tránh tình trạng đầu tư dàn trải hoặc phát triển công nghệ thiếu đầu ra. Khi bài toán được xác định trước, Nhà nước có thể lựa chọn đúng sản phẩm cần ưu tiên, huy động doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tham gia, đồng thời đánh giá hiệu quả thông qua kết quả giải quyết vấn đề thực tiễn thay vì chỉ dừng ở kết quả nghiên cứu.

Cơ chế đặt hàng gắn với bài toán của từng ngành

Theo cách làm mới, các bộ, ngành phải xác định trước bài toán cần giải quyết, sản phẩm đầu ra, nhu cầu kinh phí và đơn vị triển khai. Trên cơ sở đó, việc đặt hàng và phân bổ nguồn lực sẽ gắn với nhu cầu thực tiễn của từng ngành, thay vì phát triển công nghệ theo cách tiếp cận riêng lẻ.

Điều này đánh dấu bước chuyển từ hỗ trợ nghiên cứu theo đề tài sang đặt hàng theo nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

"Hiện nay, việc triển khai danh mục sẽ gắn với các bài toán thực tiễn của các bộ, ngành, lĩnh vực, chứ không phải phát triển sản phẩm mà không biết sản phẩm đó sẽ phục vụ cho việc gì.

Chúng ta phải đi từ các bài toán của thực tiễn, các bài toán của ngành. Ví dụ, ngành sản xuất có bài toán về số hóa sản xuất; bất động sản có bài toán khác; các ngành khác cũng có những bài toán riêng. Sau khi xác định được bài toán thì mới biết cần phát triển sản phẩm công nghệ gì để giải quyết", ông Hoàng Anh Tú nói.

Trên cơ sở các bài toán đã được xác định, các bộ, ngành sẽ đề xuất kế hoạch triển khai các sản phẩm công nghệ cho từng bài toán, đồng thời đề xuất nhu cầu kinh phí dự kiến.

Kinh phí sẽ được phân bổ cho các bộ, ngành để tổ chức đặt hàng. Các bộ cũng phải chủ động lựa chọn theo hình thức phù hợp để lựa chọn các giải pháp của doanh nghiệp, triển khai các sản phẩm công nghệ chiến lược.

Như vậy, thay vì xây dựng danh mục công nghệ trước rồi mới tìm đầu ra, cách tiếp cận mới là xác định trước nhu cầu của ngành, từ đó lựa chọn sản phẩm công nghệ, bố trí nguồn lực và tổ chức đặt hàng để giải quyết đúng bài toán thực tiễn.

Thay đổi cách triển khai để tránh chồng chéo

Bên cạnh việc thay đổi cơ chế đặt hàng, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết cách tổ chức triển khai công nghệ chiến lược sẽ có nhiều điểm mới.

Trước đây, công nghệ hay sản phẩm thuộc bộ nào thì bộ đó triển khai. Cách làm đó có thể dẫn đến sự giao thoa, chồng chéo. Còn hiện nay, sẽ có một tổ công tác liên ngành để giúp tập trung triển khai. Trong đó, mỗi bộ chỉ tập trung vào khoảng 2-3 nhiệm vụ trọng tâm, không triển khai dàn trải.

Việc tập trung nguồn lực cho một số nhiệm vụ trọng tâm sẽ giúp quá trình triển khai hiệu quả hơn, đồng thời hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực giữa quá nhiều nhiệm vụ.

photo-1776178932477-17761789327451704391619-1778041180931501912766-1.jpg
Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên các công nghệ lõi đang cạnh tranh toàn cầu như AI, chip, robot, điện toán đám mây, an ninh mạng, lượng tử và vệ tinh quỹ đạo thấp.

Một điểm mới khác được Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh là tăng cường phối hợp với các bộ, ngành trong quá trình triển khai công nghệ chiến lược, đặc biệt là với Bộ Tài chính.

"Các đơn vị cũng thường xuyên tổ chức họp với các bộ, ngành trong quá trình triển khai công nghệ chiến lược. Trước đây, việc phối hợp giữa các cơ quan còn gặp nhiều khó khăn, nhưng hiện nay cách làm đã khác", ông Tú nói và cho biết những thay đổi về cách triển khai, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường triển khai công nghệ chiến lược, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thời gian vừa qua.

Cơ chế tài chính được điều chỉnh theo hướng tăng quyền tự chủ

Song song với việc rà soát danh mục công nghệ chiến lược và đổi mới cơ chế triển khai, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đang điều chỉnh cơ chế tài chính đối với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, tăng quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì và nhà khoa học.

Trao đổi với VietTimes, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia cho biết quy trình đăng ký, xét duyệt và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các nghị định hướng dẫn.

Tổ chức, cá nhân đề xuất nhiệm vụ nộp hồ sơ đến cơ quan quản lý nhiệm vụ. Việc xét tài trợ được thực hiện thông qua hội đồng xét tài trợ và hoặc ý kiến của các chuyên gia phản biện. Sau khi có kết quả, cơ quan quản lý nhiệm vụ thông báo để tổ chức, cá nhân tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ, đồng thời tổ chức thẩm định kinh phí trước khi quyết định phê duyệt tổ chức chủ trì, phương thức khoán chi, mức kinh phí khoán, nội dung được phép khoán chi, sản phẩm đầu ra và thời gian thực hiện.

Thời gian phê duyệt nhiệm vụ tối đa là 110 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ đề xuất nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có quyết định phê duyệt, cơ quan quản lý nhiệm vụ sẽ ký hợp đồng giao nhiệm vụ với tổ chức chủ trì. Kinh phí đợt đầu được cấp ngay sau khi hợp đồng được ký kết.

Đối với các đợt cấp kinh phí tiếp theo, việc giải ngân được thực hiện căn cứ vào tiến độ triển khai công việc, tình hình sử dụng kinh phí, tiến độ giải ngân, hiệu quả thực hiện và việc tuân thủ các quy định trong quá trình triển khai nhiệm vụ.

Ở khâu nghiệm thu, hồ sơ phải được nộp trong thời gian thực hiện hợp đồng hoặc thời gian gia hạn nếu có. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhiệm vụ thực hiện thủ tục nghiệm thu, đánh giá cuối kỳ thông qua tổ chuyên gia hoặc chuyên gia tư vấn độc lập.

Kết quả nghiệm thu được thông báo cho tổ chức chủ trì và cập nhật trên cổng dịch vụ công trực tuyến. Thời gian gửi kết quả không quá 45 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Mở rộng khoán chi, giảm thủ tục thanh quyết toán

Đại diện Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia nhấn mạnh việc mở rộng cơ chế khoán chi đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, nhiều khoản chi như nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, mẫu vật... đã được đưa vào diện khoán chi, trong khi trước đây chưa được áp dụng.

Tổ chức chủ trì và nhà khoa học được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng phần kinh phí khoán. Đối với phần kinh phí sử dụng toàn bộ hoặc một phần ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì được tự quyết định việc lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, tổ chức chủ trì được quyền điều chỉnh giữa các khoản mục chi, nội dung chi; quyết định sử dụng kinh phí từ công lao động để thuê chuyên gia trong và ngoài nước theo mức kinh phí thỏa thuận.

Đáng chú ý, việc quyết toán không còn thực hiện chi tiết theo từng khoản mục, từng nội dung chi mà căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm của nhiệm vụ. Tổ chức chủ trì tự chịu trách nhiệm, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch trong nội bộ đơn vị.

Hiện nay các cơ quan quản lý thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đang đẩy mạnh chuyển sang cơ chế quỹ, cơ chế khoán chi và số hóa quy trình quản lý nhằm giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và giảm gánh nặng hành chính cho các tổ chức chủ trì.

“Cùng với đó, cơ quan quản lý nhiệm vụ từng bước chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời nới lỏng một số quy định về kinh phí và cải cách thủ tục thanh quyết toán để các nhà khoa học tập trung nhiều hơn cho hoạt động nghiên cứu”, đại diện Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia thông tin thêm.

Chuyển đổi số

UAV của CT UAV đáp tự động không dừng trên tàu thủy đang chạy tốc độ cao.

CT Group đưa công nghệ UAV Make in Vietnam sang Mỹ

CT Group dự kiến vận hành nhà máy sản xuất UAV tại Mỹ vào quý IV/2026. Đến nay, tập đoàn đã làm chủ gần 88% các công nghệ cốt lõi và phát triển UAV phục vụ 16 lĩnh vực, với sự tham gia của hơn 900 nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia.

AI Agent trở thành nhân viên số mẫn cán, tự vận hành và báo cáo kết quả.

Doanh nghiệp hoạt động 24/24 giờ nhờ AI tự hành

Nhờ AI Agent (tác nhân trí tuệ nhân tạo) và mô hình Agentic Enterprise (doanh nghiệp tự hành), các doanh nghiệp Việt Nam đang vận hành liên tục, tối ưu hóa quy trình, ra quyết định dựa trên dữ liệu và nâng cao năng suất vượt trội, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới.