close Đăng nhập
Bài 2: Những ách tắc nhỏ giết chết đề tài lớn

Bài 2: Những ách tắc nhỏ giết chết đề tài lớn

Một đoạn ống nhôm giá vài trăm nghìn hoặc một phần mềm vài triệu đồng vẫn có thể làm chậm cả đề tài khoa học tiền tỷ. Điểm nghẽn không nằm ở tiền, mà ở cách chi tiêu vẫn bị “trói” bởi hóa đơn và thủ tục hành chính nhiêu khê.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chiến lược, Việt Nam đầu tư mạnh chưa từng có cho lĩnh vực này với hàng chục nghìn tỷ đồng ngân sách được bổ sung theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Tuy nhiên, ở tầng vĩ mô chính sách thông thoáng và đột phá bao nhiêu thì ở tầng vi mô, cả chục nghìn tỷ đồng đã được ngân sách bố trí lại không tiêu được.

Từ khảo sát thực tiễn tại các đơn vị nghiên cứu và phỏng vấn các nhà khoa học, VietTimes đăng tải loạt bài "Hàng chục nghìn tỷ đầu tư phát triển khoa học công nghệ không tiêu được, vì sao?" đi sâu phân tích những điểm nghẽn về cơ chế đang cản trở dòng vốn cho khoa học công nghệ và tìm giải pháp để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới.

Bài 1: Tiền đã có nhưng đang nằm chờ

Tòa soạn VietTimes

14.png

Những ngày đầu hè năm 2026, trong phòng làm việc tại một viện nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ, TS Trịnh Trung Vĩnh mở máy tính, lướt qua hàng loạt gian hàng trên các nền tảng thương mại điện tử, từ Shopee, Taobao, Amazon,… nơi không thiếu các sản phẩm ống nhôm, ống mica với đủ kích thước, giá chỉ vài trăm nghìn đồng đã bao gồm chi phí vận chuyển.

Đề tài anh đang chủ trì, một nhiệm vụ khoa học cấp bộ kéo dài 2 năm với kinh phí suýt soát một tỷ đồng do nhà nước cấp, đang cần một vật tư rất nhỏ: một đoạn ống dài khoảng 1-2m, đòi hỏi độ chính xác cao về đường kính, độ dày và sai số gia công. Nhưng anh không thể đặt hàng, vì các nhà bán hàng nước ngoài không thể cung cấp hóa đơn hợp lệ.

1.png

Phương án đặt gia công được tính đến, nhưng ngay khi tìm được xưởng có thể đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, một vướng mắc khác lập tức xuất hiện: hóa đơn ở đâu. Với nhu cầu chỉ một vài sản phẩm, giá trị nhỏ, hầu như không đơn vị nào sẵn sàng xuất hóa đơn hợp lệ theo đúng quy định để thanh toán từ kinh phí đề tài. Nếu có, chi phí bị đẩy lên cao, không còn tương xứng với giá trị thực.

“Không phải không làm được, mà là không có chứng từ để thanh toán”, TS Vĩnh nói, tóm lược một cách ngắn gọn nút thắt mà nhiều nhà khoa học đang gặp phải.

Với hơn 20 năm làm công tác nghiên cứu khoa học ở cả Việt Nam và nước ngoài, TS Trịnh Trung Vĩnh không xa lạ với các quy trình quản lý khoa học. Đề tài hiện tại được triển khai từ năm 2024 với thời gian 2 năm. Về mặt đầu tư ngân sách cho đề tài, con số gần 1 tỷ đồng không phải là nhỏ.

Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, nguồn kinh phí này phải chia cho nhiều hạng mục từ thiết bị, vật tư đến hội thảo và nhân công, trong khi phần thù lao 2 năm lao động dành hơn 10 nhà khoa học được đào tạo bài bản, có thâm niên nghiên cứu chỉ chiếm một nửa.

Các nhà khoa học làm việc trong phòng thí nghiệm giữa bối cảnh nhiều đề tài nghiên cứu vẫn chờ tháo gỡ cơ chế để triển khai.

Các nhà khoa học làm việc trong phòng thí nghiệm giữa bối cảnh nhiều đề tài nghiên cứu vẫn chờ tháo gỡ cơ chế để triển khai.

Trong bối cảnh đó, từng khoản chi đều phải được tính toán chặt chẽ, nhưng nghịch lý lại nằm ở chỗ, những vướng mắc lớn nhất không xuất phát từ các khoản chi lớn, mà từ những chi tiết rất nhỏ. Một đoạn ống nhôm vài trăm nghìn đồng, nếu không mua được, có thể khiến cả một hạng mục thí nghiệm không thể triển khai.

Nhà khoa học vì thế rơi vào thế lựa chọn không có lời giải: mua đúng thứ cần nhưng không có hóa đơn để thanh toán, có hóa đơn thì vật tư lại không phù hợp, còn nếu tìm cách đi qua trung gian để hợp thức hóa chứng từ thì chi phí tăng lên và thủ tục trở nên phức tạp. Một khoản chi rất nhỏ, trong thực tế, lại có thể trở thành yếu tố làm chậm cả tiến độ của một đề tài nghiên cứu.

15.png

Câu chuyện không chỉ dừng lại ở vật tư trong phòng thí nghiệm, mà còn lặp lại với các công cụ số phục vụ nghiên cứu. Tại một cơ quan nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ trên phố Lý Thường Kiệt (Hà Nội), TS Lê Hoài Hải đang gặp vướng mắc khi mua phần mềm AI, một công cụ thiết yếu cho công việc của nhóm.

dsc04935-17738832824761715923304.jpg
Độ trễ thủ tục, yêu cầu chứng từ và quy trình mua sắm đang khiến nhiều nhiệm vụ khoa học chậm nhịp so với thực tế nghiên cứu.

Theo tính toán, phần mềm này có chi phí khoảng 400.000-500.000 đồng mỗi tháng và nếu mua theo gói, giá giảm còn 4-5 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, loại hóa đơn điện tử do nhà cung cấp quốc tế gửi về lại không được chấp nhận để thanh toán từ nguồn kinh phí nhà nước.

Để hợp thức hóa chứng từ, TS Hải buộc phải mua thông qua một doanh nghiệp trung gian trong nước. Đơn vị này đứng ra thanh toán với nhà cung cấp nước ngoài, sau đó xuất hóa đơn lại cho cơ quan. Nhưng khi đi qua một vòng như vậy, chi phí lập tức đội lên 8-10 triệu đồng mỗi năm.

“Chỉ để có một hóa đơn hợp lệ, chi phí có thể tăng gấp đôi”, TS Hải cho biết.

4.png

Theo nhóm nghiên cứu, việc không thể mua sắm theo phương án tối ưu không chỉ làm tăng chi phí ở từng khoản chi cụ thể, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cách phân bổ nguồn lực của cả đề tài. Trong bối cảnh kinh phí nghiên cứu luôn có hạn, khả năng tiết kiệm ở những khoản chi nhỏ có ý nghĩa rất lớn.

Nếu được mua trực tiếp với giá hợp lý, phần kinh phí tiết kiệm được có thể tái phân bổ cho các nội dung quan trọng hơn như mở rộng thí nghiệm, nâng cấp công cụ nghiên cứu hoặc tăng hỗ trợ cho nhóm thực hiện. Ngược lại, khi chi phí bị đội lên chỉ để đáp ứng yêu cầu chứng từ, không gian điều chỉnh ngân sách gần như bị triệt tiêu.

Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW là chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và trao quyền chủ động lớn hơn cho nhà khoa học.

Tuy nhiên, TS Trịnh Trung Vĩnh cho rằng về bản chất, cách quản lý hiện nay chưa có gì thay đổi so với giai đoạn trước khi có Nghị quyết 57. “Công việc nghiên cứu thay đổi rất nhanh, nhu cầu phát sinh rất linh hoạt, nhưng cách quản lý thì vẫn đi theo những quy trình cũ, nên nhiều khi không phải chúng tôi không làm được mà là không biết phải làm thế nào cho đúng thủ tục”, ông nói.

Trong khi đó, TS Lê Hoài Hải nhìn nhận vấn đề ở góc độ hiệu quả sử dụng nguồn lực. “Nghị quyết đã nói đến trao quyền và linh hoạt hơn, nhưng khi triển khai, chúng tôi thấy chưa có gì thay đổi, vẫn phải ưu tiên cái gì thanh toán được, chứ không hẳn là cái tối ưu nhất cho nghiên cứu. Như vậy thì rất khó để nâng cao chất lượng đầu ra”, ông chia sẻ.

Những vướng mắc về tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ không còn là hiện tượng đơn lẻ, mà đang xuất hiện với tần suất ngày càng phổ biến ở nhiều lĩnh vực và cấp độ nghiên cứu khác nhau. Từ các đề tài cấp cơ sở đến nhiệm vụ cấp bộ, cấp quốc gia, điểm chung là nhà khoa học đều phải đối mặt với những rào cản liên quan đến thủ tục chi tiêu, giải ngân và mua sắm.

Nhìn lại giai đoạn trước khi triển khai Nghị quyết 57, Th.S Nguyễn Văn Thọ, Đại học Đà Nẵng, cho biết trong quá trình triển khai các đề tài, từ nghiên cứu ứng dụng đến nhiệm vụ quy mô lớn, các thủ tục giải ngân, mua sắm và điều chỉnh nội dung chuyên môn nhiều khi không theo kịp nhịp độ thực tế của hoạt động khoa học. Điều này khiến nhà khoa học buộc phải dành một phần đáng kể thời gian cho hồ sơ, giấy tờ, thay vì tập trung cho nghiên cứu và sáng tạo.

tho-3.jpg
Th.S Nguyễn Văn Thọ, Viện Nghiên cứu và đào tạo Việt-Anh (VNUK), kiêm nghiên cứu tại Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến (UD-AIST) và sản phẩm nghiên cứu khoa học.

Theo ông, khoảng cách giữa mục tiêu đặt hàng theo sản phẩm cuối cùng và cách thức vận hành tài chính tại cơ sở vẫn còn khá lớn. Khi cơ chế chưa thực sự chuyển sang đánh giá theo đầu ra, mà vẫn nặng về kiểm soát đầu vào thì việc nâng cao chất lượng và tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu sẽ gặp nhiều hạn chế.

Từ thực tiễn triển khai, TS Vũ Khải Thông - lãnh đạo một viện nghiên cứu thuộc ĐH Bách Khoa TP.HCM - cho biết nhiều nhóm nghiên cứu ở đây đang theo đuổi các hướng công nghệ mới như năng lượng sạch, công nghệ môi trường, giảm phát thải và các giải pháp phục vụ tăng trưởng xanh. Đây đều là những lĩnh vực có tính ứng dụng cao, gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển bền vững, nhưng quá trình triển khai lại vấp phải nhiều rào cản mang tính hệ thống.

Một trong những vấn đề nổi bật là tình trạng giải ngân chậm so với tiến độ thực hiện đề tài. Có những nhiệm vụ khoa học đã triển khai trong thời gian dài, thậm chí gần hoàn thành, nhưng kinh phí vẫn chưa được cấp đủ, buộc chủ nhiệm đề tài phải ứng tiền để duy trì hoạt động nghiên cứu. Áp lực vì thế không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở việc đảm bảo dòng tiền để đề tài không bị gián đoạn.

Song song với đó, việc mua sắm thiết bị phục vụ nghiên cứu cũng gặp nhiều trở ngại do quy trình đấu thầu và các yêu cầu hành chính phức tạp. Ngay cả những thay đổi nhỏ như điều chỉnh nguồn gốc xuất xứ thiết bị, dù không ảnh hưởng đến thông số kỹ thuật cũng có thể khiến toàn bộ hồ sơ phải rà soát, làm lại từ đầu, kéo dài tiến độ, làm gián đoạn kế hoạch.

Không chỉ dừng lại ở các thủ tục cụ thể, một điểm nghẽn mang tính cấu trúc được các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ ra là độ trễ kéo dài trong toàn bộ quy trình phê duyệt và triển khai nhiệm vụ. Từ khâu xây dựng thuyết minh, thẩm định dự toán đến hoàn tất đấu thầu mua sắm, thời gian có thể kéo dài từ 12 đến 18 tháng, vượt xa nhịp vận động nhanh của thị trường công nghệ.

t9-vast-day-manh-nghien-cuu-3149.jpg
Nhà khoa học cho biết đang làm việc trong phòng thí nghiệm giữa bối cảnh nhiều nút thắt thủ tục vẫn cản trở tiến độ nghiên cứu..

Trong khoảng thời gian này, các yếu tố kinh tế vĩ mô như giá nhiên liệu, tỷ giá ngoại tệ và chi phí logistics liên tục biến động khiến dự toán kinh phí nhanh chóng trở nên lạc hậu so với thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều gói thầu không thể triển khai do giá thị trường đã vượt xa mức ngân sách được phê duyệt ban đầu.

Thực tế có lúc giá vật tư, hóa chất chuyên dụng tăng tới 30% so với thời điểm lập dự toán, khiến nhà cung cấp không mặn mà đấu thầu vì không đảm bảo lợi nhuận. Khi đó, nhà khoa học rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải cắt giảm quy mô thí nghiệm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu, hoặc phải thực hiện các thủ tục điều chỉnh dự toán phức tạp, kéo dài thêm thời gian và làm trầm trọng hơn độ trễ.

Một bất cập khác nằm ở cách tiếp cận trong mua sắm, khi các quy định hiện hành chưa phản ánh đúng tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học. Hóa chất tinh khiết, thiết bị chuyên dụng hay vật tư đặc thù vẫn bị quản lý như hàng hóa thông dụng, áp dụng các tiêu chí như yêu cầu đủ 3 báo giá hoặc lựa chọn theo giá thấp nhất.

Theo các nhà nghiên cứu, nhiều loại vật tư nghiên cứu chỉ có một hoặc rất ít nhà cung cấp trên thị trường, khiến các yêu cầu này trở nên thiếu khả thi. Việc áp dụng máy móc các tiêu chí hành chính không chỉ gây khó khăn trong mua sắm, mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến độ chính xác và độ tin cậy của kết quả thực nghiệm, vốn là yếu tố cốt lõi của nghiên cứu khoa học.

Trong khi Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra định hướng rõ ràng là chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà khoa học. Nhưng thực tế triển khai cho thấy cơ chế vận hành vẫn chủ yếu dựa trên tư duy kiểm soát đầu vào, với trọng tâm là thủ tục, chứng từ và quy trình hành chính.

Những nhu cầu của nghiên cứu hiện đại, từ việc sử dụng công cụ số, dịch vụ quốc tế đến hợp tác xuyên biên giới, vẫn phải vận hành trong khuôn khổ cũ, vốn được thiết kế cho một bối cảnh hoàn toàn khác. Điều này tạo ra khoảng cách ngày càng rõ rệt giữa tinh thần cải cách của chính sách và thực tiễn triển khai tại các đơn vị nghiên cứu.

Từ chuyện một đoạn ống nhôm vài trăm nghìn đồng không thể mua vì thiếu hóa đơn, đến những quy trình đấu thầu kéo dài hàng năm chỉ rõ một thực tế: nguồn lực tài chính không phải là rào cản lớn nhất đối với hoạt động khoa học công nghệ hiện nay. Vấn đề cốt lõi nằm ở cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực, khi các cơ chế hiện hành chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn nghiên cứu.

* Tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi theo yêu cầu.

Một đoạn ống nhôm vài trăm nghìn đồng có thể làm đình trệ đề tài tiền tỷ nhưng phía sau những tồn tại ấy là một vấn đề lớn hơn nhiều: Khoa học đang phải vận hành theo nhịp của thủ tục hành chính. Khi công nghệ thay đổi từng ngày còn cơ chế phản ứng theo từng quý, từng năm, khoảng cách giữa chính sách và thực thi đang trở thành lực cản vô hình đối với đổi mới sáng tạo.

Bài 3: “Khi cơ chế hành chính làm khoa học chậm nhịp” sẽ đi sâu vào nghịch lý này.

Chuyển đổi số

Ông Nguyễn Hải Sơn nhận quyết định bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc CMC TS.

CMC sẽ làm gì khi tái cơ cấu khối công nghệ?

Tập đoàn CMC vừa tái cấu trúc Khối công nghệ và Giải pháp, hợp nhất năng lực tư vấn vào CMC TS và nâng vốn điều lệ CMC TS lên 350 tỷ đồng, đặt mục tiêu phục vụ hơn 20.000 doanh nghiệp trên toàn quốc trong chiến lược tăng tốc AI-X.

Sáp nhập, giải thể các trường đại học không đạt chuẩn

Sáp nhập, giải thể các trường đại học không đạt chuẩn

Thủ tướng yêu cầu Bộ GD&ĐT rà soát, sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, sáp nhập, giải thể các cơ sở không đạt chuẩn; tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.