Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, vụ án tại Công ty Việt Mỹ và các đơn vị liên quan bước đầu làm rõ dấu hiệu chuyển giá, trốn thuế trong mua sắm, nhập khẩu thiết bị y tế và thuốc tân dược.
Cơ quan điều tra cho rằng ông Bùi Chân Phương đã thành lập, điều hành nhiều công ty tại Việt Nam, Singapore và Hồng Kông để mua đi bán lại, nâng giá thiết bị y tế, thuốc tân dược trước khi nhập khẩu về Việt Nam, bán cho các cơ sở y tế với giá cao, thu lợi bất chính. Liên quan đến vụ án, ngày 2/9, ông Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, bị bắt để điều tra về tội nhận hối lộ.
Trong những vụ án tham nhũng, tiêu cực liên quan đến mua sắm công, điều đáng lo nhất không chỉ nằm ở khoản tiền bị thất thoát. Nếu doanh nghiệp nâng giá hàng hóa để tạo ra nguồn lợi bất chính và dùng một phần lợi ích đó để tác động đến người có quyền quyết định, thì chi phí cuối cùng có thể được đẩy sang ngân sách và người sử dụng dịch vụ.
Theo kết quả điều tra bước đầu được công bố, nhóm doanh nghiệp liên quan Việt Mỹ bị cáo buộc mua bán lòng vòng, nâng giá thiết bị y tế và thuốc tân dược trước khi nhập khẩu về Việt Nam, sau đó bán cho các cơ sở y tế với giá cao. Trong số các thiết bị Việt Mỹ từng cung cấp có nhiều thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư.
Câu hỏi đặt ra là: Khi những khoản tiền, thường không nhỏ, bị nâng lên trong giá thuốc, đội giá thiết bị qua những giao dịch lòng vòng, ai sẽ là người phải gánh?
Nếu giá thiết bị tăng bất hợp lý, chi phí đầu tư của bệnh viện tăng. Khi thiết bị được đưa vào khai thác, những chi phí này có thể được tính vào quá trình cung cấp dịch vụ. Với thuốc, giá mua cao cũng có thể làm tăng khoản tiền mà hệ thống y tế, quỹ bảo hiểm y tế và người bệnh phải chi trả, tùy từng loại thuốc và cơ chế thanh toán.
Người bệnh thường là người ở cuối chuỗi và có thể phải gánh một phần hậu quả của những chi phí bị đẩy lên.
Với những thiết bị và thuốc phục vụ điều trị ung thư, câu chuyện càng đáng suy nghĩ. Ung thư vốn là căn bệnh hiểm nghèo, khiến một gia đình dễ nhanh chóng rơi vào vòng xoáy chi phí. Điều trị thường kéo dài, phải sử dụng nhiều loại thuốc, thực hiện nhiều đợt hóa trị, xạ trị, phẫu thuật hoặc các kỹ thuật chuyên sâu.
Bên cạnh tiền điều trị còn là tiền đi lại, ăn ở, người chăm sóc và những ngày nghỉ việc. Nhiều bệnh nhân phải vay tiền, bán tài sản hoặc xin hỗ trợ từ những nhà hảo tâm để giữ được lịch điều trị, để giành giật mạng sống, giữ cho gia đình không bị khuyết thiếu, cho những đứa trẻ không mất mẹ hoặc cha.
Với những bệnh nhân này, vài chục triệu đồng có thể là tiền học của con trong nhiều tháng, là khoản vay phải trả trong nhiều năm, thậm chí là ranh giới giữa việc tiếp tục điều trị và buộc phải dừng lại.
Vì thế, nếu lợi ích bất chính được tạo ra bằng cách đẩy thêm chi phí điều trị lên vai những người bệnh ung thư, thì đó không chỉ là vấn đề tiền bạc, mà còn đặt ra một câu hỏi rất nghiêm khắc về đạo đức của những người tham gia.
Ngành y được xã hội trao một thứ quyền lực đặc biệt vì đối tượng phục vụ luôn là những con người yếu thế nhất. Bởi vậy, nếu quyền lực ấy bị biến thành công cụ trục lợi từ thuốc và thiết bị y tế, điều bị tổn thương không chỉ là ngân sách, mà trước hết là niềm tin và quyền lợi người bệnh.
Có lẽ không ngành nào mà chữ “Đức” được đặt nặng như ngành y.
Bởi người thầy thuốc thường gặp người bệnh ở thời điểm họ yếu đuối nhất: Khi đau đớn, sợ hãi, thiếu thông tin và phải đặt sức khỏe, thậm chí tính mạng, vào tay người khác. Người bệnh đến bệnh viện không phải với tâm thế của một khách hàng bình thường. Họ không đủ kiến thức để biết loại thuốc nào thực sự cần thiết, chiếc máy nào có giá bao nhiêu, một thiết bị đã qua bao nhiêu tầng trung gian hay vì sao cùng một sản phẩm lại có thể có những mức giá rất khác nhau. Họ chỉ biết mình đang bệnh và cần được chữa.
Với bệnh nhân ung thư, sự yếu thế ấy còn lớn hơn. Họ không thể trì hoãn một đợt xạ trị chỉ vì nghi ngờ chiếc máy bệnh viện đang sử dụng có giá quá cao. Họ cũng không thể đứng trước một loại thuốc và mặc cả như mua một món hàng tiêu dùng.
Vậy mà trong vụ án Việt Mỹ, chính thuốc và thiết bị y tế lại đang là trung tâm của những cáo buộc đặc biệt nghiêm trọng.
Vì thế, câu hỏi quan trọng hơn trong vụ Việt Mỹ là: Vì sao những bất thường về giá và giao dịch không được nhận diện sớm?
Không thể chỉ chờ đến khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện giá thuốc, giá thiết bị có vấn đề. Lẽ ra, hệ thống quản lý phải có khả năng nhận diện sớm những mức giá bất thường, những doanh nghiệp liên tục trúng các gói thầu lớn, những giao dịch qua nhiều tầng trung gian và những pháp nhân có dấu hiệu liên quan về sở hữu hoặc lợi ích.
Dữ liệu nhập khẩu, giá giao dịch, giá trúng thầu và lịch sử mua sắm cần được kết nối để nhìn ra những bất thường mà một bộ hồ sơ riêng lẻ khó phát hiện.
Minh bạch cũng phải đi cùng trách nhiệm giải trình. Một thiết bị có giá cao hơn mặt bằng thị trường cần phải được giải thích bằng những yếu tố có thể kiểm chứng, thay vì chỉ dựa vào một bộ hồ sơ đủ thủ tục.
Đặc biệt, phải kiểm soát xung đột lợi ích. Người có quyền quyết định, thẩm định, cấp phép hoặc tác động đến việc lựa chọn thuốc, thiết bị phải được đặt trong cơ chế giám sát đủ chặt để quyền lực công không thể biến thành lợi ích tư. Chỉ khi hệ thống thay đổi, nguy cơ tái diễn mới được thu hẹp.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã yêu cầu kiểm soát chặt chẽ giá thành từ gốc đối với thuốc, thiết bị y tế và cương quyết loại bỏ các chi phí trung gian không cần thiết. Muốn giảm gánh nặng cho người bệnh thì phải bắt đầu từ nơi hình thành giá, chứ không chỉ xử lý ở khâu cuối.
Người bệnh cần biết rằng khi bước vào bệnh viện, giá thuốc không bị làm cho đắt lên bởi những giao dịch họ không thể nhìn thấy; chiếc máy điều trị không bị đội giá bởi những khoản chênh lệch họ không thể kiểm soát; và đồng tiền bảo hiểm y tế được sử dụng đúng mục đích.
Việc xử lý nghiêm vụ Việt Mỹ là cần thiết. Nhưng điều nhức nhối hơn đối với hàng triệu người bệnh là sau vụ án này, những kẽ hở tạo cơ hội cho việc trục lợi có được bịt lại hay không?
Bởi trong y tế, một khoản tiền bất chính không chỉ là tiền. Đằng sau nó có thể là tiền thuốc của một gia đình nghèo, khoản vay để tiếp tục xạ trị, tài sản cuối cùng phải bán đi để chữa bệnh.
Khi lợi ích riêng được tạo ra bằng cách đẩy thêm chi phí lên vai người bệnh, đó không còn là câu chuyện của những con số trên giấy tờ. Đó là lúc lòng tham biến thành nỗi đau rất thật với họ.
