Một sản phẩm thực phẩm được sản xuất ở đâu, qua những khâu nào, doanh nghiệp nào chịu trách nhiệm, từng xảy ra vi phạm hay chưa và khi có sự cố thì phải truy xuất từ đâu?
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất trả lời những câu hỏi này bằng một hệ thống dữ liệu liên thông từ Trung ương đến địa phương.
Theo TS Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), hai trụ cột quan trọng để quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và tổ chức hệ thống quản lý theo một đầu mối.
Cơ sở dữ liệu dự kiến tích hợp thông tin về cơ sở sản xuất, kinh doanh, vòng đời sản phẩm, ngộ độc thực phẩm, kết quả thử nghiệm, thanh tra, kiểm tra và các dữ liệu liên quan. Việc số hóa sẽ được thực hiện theo lộ trình và kết nối giữa các bộ, ngành, địa phương.
Theo dõi "vòng đời" của từng sản phẩm
Theo dự luật, hạn chế hiện nay là chưa có hệ thống dữ liệu kết nối, liên thông để quản lý trực tuyến việc đăng ký lưu hành, công bố sản phẩm, xuất nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, thanh tra, kiểm tra và giám sát thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm.
Từ thực tế đó, chính sách mới đề xuất xây dựng hệ thống thông tin an toàn thực phẩm thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Đáng chú ý là dữ liệu dự kiến không chỉ ghi nhận sản phẩm ở một thời điểm. Hệ thống dự kiến có thông tin về cơ sở kinh doanh thực phẩm và toàn bộ vòng đời của từng thực phẩm, từ sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến, kinh doanh, lưu thông trên thị trường đến khi được sử dụng.
Tức là thay vì thông tin về một sản phẩm nằm rải rác ở nhiều khâu và nhiều nơi, cơ quan quản lý hướng tới một hệ thống có khả năng kết nối các dữ liệu này.
Khi một mẫu thực phẩm bị phát hiện không an toàn, dữ liệu sẽ được sử dụng để truy xuất nguồn gốc, cảnh báo, phòng ngừa và thu hồi sản phẩm.
Hồ sơ chính sách xác định mục tiêu của hệ thống dữ liệu là đồng bộ hóa quản lý, rút ngắn thời gian phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố, đồng thời hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và cảnh báo nhanh khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.
Mã vạch, nhãn điện tử và AI được đưa vào quản lý an toàn thực phẩm
Một thay đổi người dân dễ hình dung hơn là việc tăng cường sử dụng mã số, mã vạch, nhãn điện tử và nền tảng số trong quản lý chuỗi cung ứng.
Theo đề xuất, công nghệ sẽ được ứng dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, phân tích nguy cơ, phòng ngừa và xử lý sự cố, truy xuất nguồn gốc cũng như kiểm tra thực phẩm đang lưu thông trên thị trường.
Đáng chú ý, theo dự luật, sẽ từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các công nghệ số tiên tiến trong kiểm nghiệm, phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố, truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm.
Điều này cho thấy hướng quản lý mới sẽ dựa nhiều hơn vào dữ liệu thay vì chỉ dựa vào những đợt kiểm tra riêng lẻ.
Dữ liệu cũng có thể giúp cơ quan quản lý xác định nơi nào cần kiểm tra trước. Hồ sơ đề xuất kiểm tra thực phẩm đang lưu thông trên cơ sở dữ liệu thống nhất, gồm kết quả đánh giá nguy cơ, dữ liệu kiểm nghiệm, thông tin sự cố, kết quả giám sát và lịch sử tuân thủ của cơ sở qua các cuộc thanh tra, kiểm tra trước đó.
Nếu thực hiện được, cách làm này có thể giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những sản phẩm, cơ sở có nguy cơ cao thay vì kiểm tra dàn trải.
Doanh nghiệp phải lưu trữ nhiều dữ liệu hơn
Để hệ thống hoạt động, dữ liệu từ doanh nghiệp cũng phải được đưa vào hệ thống.
Theo đó, cơ sở kinh doanh thực phẩm sẽ có lộ trình phải lưu trữ đầy đủ các thông tin liên quan dưới dạng cơ sở dữ liệu trong quá trình kinh doanh, cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu và từng bước kết nối với hệ thống thông tin an toàn thực phẩm.
Hệ thống dự kiến được kết nối với nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, trong đó có dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, xuất nhập khẩu thực phẩm, cơ sở sản xuất ban đầu, cơ sở xuất nhập khẩu, cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và các dữ liệu liên quan của bộ, ngành khác.
Như vậy, doanh nghiệp sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến việc chuẩn hóa và lưu giữ dữ liệu trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh, thay vì chỉ lưu hồ sơ phục vụ một thủ tục cụ thể.
Với người tiêu dùng, lợi ích được kỳ vọng rõ nhất là khi có sự cố, việc tìm nguồn gốc sản phẩm và xác định phạm vi cần cảnh báo, thu hồi được thực hiện nhanh hơn.
Dự luật cũng quy định việc ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử, mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu theo quy định pháp luật.
Theo dự luật, hệ thống sẽ được phân quyền truy cập cho các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương theo lĩnh vực được phân công, nhằm phục vụ phân tích nguy cơ, phòng ngừa, xử lý sự cố và truy xuất nguồn gốc kịp thời.