Năng lực điều trị ung thư giữa các địa phương còn chênh lệch
Bên lề hội thảo khoa học quốc tế “Ung thư trong kỷ nguyên hội nhập – Best of ASCO 2026”, đang diễn ra tại Hà Nội, GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, Trưởng Bộ môn Ung thư Trường ĐHYHN, chia sẻ: “Nếu cứ tập trung toàn bộ người bệnh về các bệnh viện tuyến trung ương, thì không biết đến bao giờ mới có thể đáp ứng hết nhu cầu điều trị”.
Theo GS Quảng, Bệnh viện K thực hiện công tác chỉ đạo tuyến cho 34 tỉnh, thành phố, với mục tiêu nâng cao năng lực tiếp nhận, chẩn đoán và điều trị ung thư tại các cơ sở y tế địa phương với các hoạt động: tổ chức hội thảo cập nhật kiến thức, hướng dẫn điều trị; cử các đoàn công tác trực tiếp hỗ trợ cơ sở y tế; đào tạo bác sĩ địa phương tại Bệnh viện K vv…
Theo GS Quảng, hoạt động chỉ đạo tuyến bước đầu mang lại kết quả. Trước đây, số người bệnh đến Bệnh viện K thường tăng khoảng 20-25% mỗi năm, nhưng năm qua chỉ còn khoảng 5%, cho thấy một số bệnh viện tuyến dưới đã có khả năng tiếp nhận, chẩn đoán và điều trị tốt hơn. Những trường hợp có thể điều trị tại địa phương không nhất thiết phải chuyển hết lên tuyến trung ương.
Tuy nhiên, GS Quảng cũng thẳng thắn nhìn nhận năng lực điều trị ung thư giữa các địa phương còn chênh lệch. Điều trị ung thư là điều trị đa mô thức, đòi hỏi sự phối hợp giữa phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và các phương pháp điều trị toàn thân như điều trị đích, điều trị miễn dịch.
Trong khi đó, có địa phương chưa có máy xạ trị; có nơi đã được trang bị nhưng khả năng triển khai chưa tốt. Một số cơ sở làm được hóa trị, xạ trị nhưng năng lực phẫu thuật chưa đáp ứng yêu cầu. Ngược lại, có nơi phẫu thuật tốt nhưng năng lực giải phẫu bệnh còn hạn chế.
“Các khâu phải phát triển đồng bộ. Không thể chỉ thực hiện tốt một công đoạn rồi chuyển người bệnh đến nơi khác để tiếp tục điều trị” - GS Quảng nhấn mạnh.
Hội chẩn trực tuyến có thể hỗ trợ tuyến dưới trong đọc kết quả chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và xử trí những ca bệnh phức tạp. Nhưng đây chỉ là công cụ hỗ trợ, không thể thay thế nhân lực, trang thiết bị và năng lực chuyên môn tại chỗ. Chất lượng hội chẩn cũng phụ thuộc rất lớn vào việc bác sĩ tuyến dưới cung cấp chính xác thông tin người bệnh.
Bác sĩ Việt Nam theo kịp thế giới, nhưng thuốc mới vẫn ngoài tầm với
Đánh giá về trình độ chuyên môn của bác sĩ Việt Nam, GS Quảng cho rằng về cập nhật kiến thức, bác sĩ trong nước hiện gần như có thể theo kịp thế giới. Các nghiên cứu mới, tiến bộ khoa học và hướng dẫn điều trị quốc tế có thể được tiếp cận tương đối nhanh.
Bệnh viện K thường xuyên cập nhật nghiên cứu từ Hiệp hội Ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO), đồng thời tăng cường hợp tác với các chuyên gia quốc tế để trao đổi kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm. Bệnh viện cũng đã tiến tới tham gia một số nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha I, chủ yếu liên quan đến thuốc điều trị ung thư phổi, dạ dày và đại trực tràng.
Tuy nhiên, theo GS Quảng, cập nhật được kiến thức không đồng nghĩa có thể áp dụng mọi tiến bộ vào thực tế. Rào cản lớn là chi phí thuốc và khả năng chi trả của người bệnh.
GS Quảng cho biết hầu hết các nhóm ung thư đều có những cập nhật về thuốc và phương pháp điều trị. Một số thuốc mới có thể mang lại cơ hội sống tốt hơn cho người bệnh, nhưng giá rất cao. Chẳng hạn, một loại thuốc mới điều trị ung thư tụy có thể giúp kéo dài thời gian sống của bệnh nhân giai đoạn muộn gấp 2-3 lần so với trước đây. Tuy nhiên, chi phí một liệu trình tại Mỹ có thể lên tới khoảng 500.000 USD.
Với những loại thuốc mới, bệnh viện không thể tự quyết định giá hay yêu cầu nhà sản xuất giảm giá. Theo GS Quảng, muốn có mức giá phù hợp hơn, cần có sự tham gia của Nhà nước trong đàm phán với các đơn vị sản xuất, cung ứng thuốc.
Một vấn đề khác là khi xây dựng hướng dẫn điều trị tại Việt Nam, không thể đơn giản đưa nguyên các khuyến cáo quốc tế vào áp dụng. Có phương pháp được xếp ưu tiên hàng đầu trên thế giới nhưng chi phí quá đắt đỏ, không phù hợp để triển khai rộng rãi trong nước.
Theo GS Quảng, điều quan trọng là lựa chọn phương pháp vừa bảo đảm chuyên môn, vừa phù hợp điều kiện kinh tế và có khả năng triển khai tại nhiều bệnh viện, địa phương. Những phương án đắt tiền hơn có thể dành cho người bệnh có điều kiện kinh tế hoặc yêu cầu điều trị riêng.
GS Quảng cho biết hiện có dự thảo đề xuất bổ sung một số thuốc điều trị đích và thuốc miễn dịch vào danh mục BHYT thanh toán, với tỷ lệ dự kiến từ 30% đến 70%. Nếu được thông qua, chính sách này sẽ giúp người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận thuốc mới và giảm một phần chi phí tự chi trả. Tuy nhiên, vẫn cần chờ chính sách chính thức.
Chậm cập nhật phác đồ, người bệnh có thể chịu thiệt
Đề cập tiến độ ban hành hướng dẫn điều trị cũng là một điểm nghẽn, GS Quảng cho biết có những phác đồ điều trị ung thư đã được thảo luận trong nhiều năm nhưng vẫn chưa hoàn tất. Riêng quá trình xây dựng, thông qua phác đồ điều trị đối với 6 bệnh ung thư phổ biến đã trải qua khoảng 4-5 lần họp, thảo luận và chỉnh sửa từ đầu năm, nhưng vẫn chưa có kết quả cuối cùng.
Điều này khiến việc cập nhật kiến thức và ứng dụng tiến bộ mới gặp khó khăn. Khi muốn triển khai phương pháp điều trị mới mà chưa có hướng dẫn chính thức của Bộ Y tế, bệnh viện phải cân nhắc về quy định chuyên môn và thanh toán BHYT.
Đáng chú ý, GS Quảng dẫn ví dụ về phác đồ sử dụng oxaliplatin. Đây là thuốc đã được sử dụng trong điều trị ung thư trên thế giới, nhưng khi chưa được Bộ Y tế thông qua trong hướng dẫn điều trị, việc thanh toán BHYT gặp khó khăn. Khi muốn điều trị theo phương pháp mới mà chưa có cơ chế thanh toán phù hợp, người bệnh có thể phải tự chi trả.
GS Quảng cho biết hiện nay một số bệnh viện đã có thể chủ động xây dựng, cập nhật phác đồ thông qua hội đồng khoa học và hội đồng chuyên môn. Tuy nhiên, để trở thành hướng dẫn điều trị thống nhất trên toàn quốc, phác đồ vẫn cần được Bộ Y tế xem xét, phê duyệt.
Trong bối cảnh thuốc mới và phương pháp điều trị mới liên tục được cập nhật, nếu quy trình xây dựng hướng dẫn kéo dài nhiều năm, khoảng cách giữa tiến bộ y học thế giới và khả năng ứng dụng tại Việt Nam sẽ ngày càng lớn.
Giám đốc Bệnh viện K mong muốn các hướng dẫn điều trị được xem xét, cập nhật và ban hành nhanh hơn, nhất là đối với những bệnh ung thư phổ biến và phương pháp đã có đủ cơ sở khoa học. Theo ông, cần vừa bảo đảm tính chặt chẽ về chuyên môn, vừa có quy trình đủ linh hoạt để bệnh viện kịp thời ứng dụng tiến bộ mới.
Việc cập nhật phác đồ để bác sĩ có thêm lựa chọn điều trị, người bệnh có cơ hội tiếp cận thuốc mới và quyền lợi BHYT được bảo đảm tốt hơn.