Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra đầu năm 2021, thời điểm thế giới đứng trước những cú sốc kép chưa từng có: đại dịch Covid-19, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, cùng sự trỗi dậy mạnh mẽ của công nghệ số và kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, nhiệm kỳ Đại hội XIII không chỉ là một giai đoạn “điều hành đất nước”, mà là phép thử toàn diện đối với năng lực thích ứng và tầm nhìn phát triển dài hạn.
Nhìn lại gần trọn nhiệm kỳ, nếu phải chọn ra một luận điểm xuyên suốt, mang tính bản lề, theo nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp, thì đó chính là: “Việt Nam đã bắt đầu đặt cược nghiêm túc vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và khu vực kinh tế tư nhân. Đây không chỉ là một lựa chọn chính sách, mà là sự điều chỉnh căn bản trong tư duy phát triển quốc gia”.
Trục xoay của tư duy phát triển mới
Nhiệm kỳ Đại hội XIII mở đầu bằng một thử thách đặc biệt khắc nghiệt: đại dịch Covid-19. Trong giai đoạn 2021 - 2022, Việt Nam phải đối diện đồng thời với nguy cơ suy giảm tăng trưởng, đứt gãy sản xuất, áp lực an sinh xã hội và những rủi ro vĩ mô tiềm ẩn.
Nguyên Bộ trưởng Lê Doãn Hợp nhấn mạnh rằng: “Những quyết sách điều hành linh hoạt, đặc biệt là việc chuyển hướng chiến lược từ “zero Covid” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh”, đã giúp nền kinh tế sớm mở cửa trở lại. Chiến dịch tiêm chủng quy mô lớn, triển khai trong thời gian ngắn, trở thành điểm tựa quan trọng để khôi phục sản xuất, lưu thông và đời sống xã hội.
Điều đáng chú ý là trong quá trình phục hồi, Việt Nam vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô: lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn cơ bản bảo đảm, hệ thống tài chính, ngân hàng vận hành an toàn. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế lớn chao đảo, việc Việt Nam giữ được “nhịp đập” của nền kinh tế là tiền đề quan trọng cho những bước đi tiếp theo.
Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của giai đoạn phục hồi không nằm ở con số tăng trưởng, mà ở cách Việt Nam nhìn lại mô hình phát triển của chính mình. Đại dịch như một “phép thử sức bền”, buộc nền kinh tế phải tự đặt câu hỏi: tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên, hay chuyển sang mô hình dựa trên tri thức và sáng tạo?”
“Nhiệm kỳ Đại hội XIII đã cho thấy một sự lựa chọn rõ ràng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ, trong đó các lĩnh vực gắn với công nghệ, logistics, thương mại điện tử, kinh tế số, dịch vụ số, công nghệ tài chính, nội dung số… trở thành những lĩnh vực tăng trưởng năng động. So với khu vực ASEAN, Việt Nam nằm trong nhóm có tốc độ tăng trưởng kinh tế số cao, chỉ sau một số nước dẫn đầu như Singapore.
Đối với người dân, dấu ấn rõ nhất của nhiệm kỳ Đại hội XIII là sự cải thiện từng bước trong chất lượng cuộc sống. Việc đi lại thuận tiện hơn, tiếp cận dịch vụ công dễ dàng hơn, nhiều thủ tục được thực hiện trực tuyến, tiết kiệm thời gian và chi phí. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch và biến động kinh tế toàn cầu, việc giữ được ổn định xã hội, đảm bảo an sinh cho người dân là một thành tựu rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, kỳ vọng của người dân không chỉ dừng ở sự cải thiện, mà là sự thay đổi rõ rệt và bền vững hơn: thu nhập tăng nhanh hơn, dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng cao hơn, cơ hội việc làm tốt hơn cho giới trẻ. Những kỳ vọng này chưa phải lúc nào cũng được đáp ứng đầy đủ, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa” - nguyên Bộ trưởng Lê Doãn Hợp khẳng định.
Chính trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn đứng ở “vị trí bên lề”, mà dần trở thành trục xoay của tư duy phát triển mới.
Bộ tứ Nghị quyết và sự thay đổi mang tính nền tảng
Một dấu ấn đặc biệt của nhiệm kỳ Đại hội XIII là việc Trung ương ban hành hệ thống nghị quyết quan trọng, thường được gọi là Bộ tứ Nghị quyết (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về "Hội nhập quốc tế trong tình hình mới"; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân), tạo thành chỉnh thể chiến lược về hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phát huy các động lực tăng trưởng mới.
Trao đổi với VietTimes, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân khẳng định: “Điểm tiến bộ cốt lõi của các nghị quyết này không nằm ở số lượng chính sách, mà ở sự thay đổi vai trò của Nhà nước. Từ chỗ “làm thay”, “quản lý chi li”, Nhà nước từng bước chuyển sang kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế, tạo không gian cho thị trường và doanh nghiệp phát huy sáng tạo.
Lần đầu tiên, khoa học - công nghệ được xác định rõ là động lực then chốt của phát triển nhanh và bền vững, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được xác lập là hướng đi chiến lược, thay cho tư duy dàn trải, phong trào.
Nếu khoa học - công nghệ là “động cơ”, thì kinh tế tư nhân chính là hệ truyền động của nền kinh tế. Một điểm nhấn rất rõ trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là sự thay đổi cách nhìn đối với khu vực này.
Từ chỗ chủ yếu được thừa nhận về mặt pháp lý, kinh tế tư nhân đã được khẳng định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Đây là bước tiến lớn về nhận thức, phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường hiện đại.
Thực tiễn cho thấy trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch, chính doanh nghiệp tư nhân là khu vực linh hoạt nhất, nhanh chóng thích ứng, duy trì việc làm và chuỗi cung ứng. Nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn đã mạnh dạn đầu tư vào công nghệ cao, hạ tầng số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao – những lĩnh vực đòi hỏi tầm nhìn dài hạn và khả năng chấp nhận rủi ro.
Sự hình thành một lớp doanh nhân mới, có khát vọng vươn ra toàn cầu, chính là chỉ dấu quan trọng của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng”.
Tháo gỡ thể chế - điểm nghẽn lớn nhất của sáng tạo
Còn theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng, cho rằng điểm nhấn quan trọng nhất của nhiệm kỳ Đại hội XIII là chỉ ra đúng nút thắt của phát triển: thể chế. Nếu không cải cách thể chế mạnh mẽ và nhất quán thì mọi khẩu hiệu về đổi mới sáng tạo sẽ khó đi vào đời sống. Nhưng khi thể chế được tháo gỡ, sáng tạo sẽ không cần xin phép để phát triển, và đó mới là nền tảng cho tăng trưởng bền vững dựa trên tri thức và công nghệ”.
Ông Dũng nói: “Việc đặt khoa học - công nghệ và kinh tế tư nhân vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển mới mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ, và cũng là thách thức lớn nhất, nằm ở khả năng cải cách thể chế một cách thực chất, đủ mạnh để giải phóng năng lực sáng tạo của xã hội.
Thực tế cho thấy, doanh nghiệp tư nhân, lực lượng được kỳ vọng là đầu tàu đổi mới, vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Việc tiếp cận vốn dài hạn cho đầu tư công nghệ còn hạn chế; đất đai cho sản xuất và nghiên cứu thiếu ổn định; công nghệ lõi khó tiếp cận; trong khi nguồn nhân lực chất lượng cao vừa thiếu vừa cạnh tranh gay gắt. Những rào cản này khiến không ít doanh nghiệp buộc phải chọn con đường an toàn, ngắn hạn, thay vì đầu tư cho đổi mới dài hơi.
Ở tầm vĩ mô, cơ chế tài chính cho nghiên cứu - phát triển (R&D) vẫn còn cứng nhắc, nặng tính thủ tục và chưa gắn chặt với hiệu quả đầu ra. Liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp, trụ cột của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi ích. Không ít kết quả nghiên cứu vẫn nằm trên giấy, trong khi doanh nghiệp phải tự tìm kiếm giải pháp công nghệ từ bên ngoài.
Đáng lo ngại hơn là tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm trong một bộ phận thực thi chính sách. Khi an toàn cá nhân được đặt cao hơn đổi mới, thì sáng tạo khó có cơ hội nảy nở. Môi trường như vậy không khuyến khích các quyết định đột phá, càng không tạo động lực cho doanh nghiệp dấn thân vào những lĩnh vực công nghệ rủi ro cao”.
“Từng bước tháo gỡ được những nút thắt này là vấn đề cực kỳ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện trong nhiệm kỳ Đại hội XIII”, ông Dũng khẳng định.
Nền tảng cho khát vọng đổi mới sáng tạo
Một trụ cột quan trọng khác tạo nền tảng bền vững cho đổi mới sáng tạo chính là môi trường thể chế liêm chính, minh bạch. PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói: “Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, công tác phòng, chống tham nhũng được triển khai đồng bộ, quyết liệt, với tinh thần xuyên suốt: không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền. Đây không chỉ là thông điệp chính trị mạnh mẽ, mà còn là cam kết rõ ràng đối với kỷ luật phát triển quốc gia.
Việc xử lý nghiêm minh nhiều vụ án lớn, liên quan đến cả cán bộ cấp cao, không dừng lại ở mục tiêu làm trong sạch bộ máy. Ý nghĩa sâu xa hơn nằm ở chỗ tái lập trật tự và kỷ cương trong phân bổ, sử dụng nguồn lực công. Khi tham nhũng bị đẩy lùi, các quyết định đầu tư không còn bị chi phối bởi lợi ích nhóm hay động cơ vụ lợi, mà quay trở lại phục vụ các mục tiêu dài hạn: hạ tầng, khoa học - công nghệ, giáo dục và tương lai đất nước. Đó chính là “kỷ luật phát triển”, điều kiện tiên quyết để sáng tạo nảy nở trong một môi trường công bằng và dự đoán được”.
Văn hóa, con người, nền móng mềm của sáng tạo: Phát triển dựa trên khoa học - công nghệ không chỉ là câu chuyện của máy móc, dữ liệu hay thuật toán, mà trước hết là câu chuyện của con người. Nhiệm kỳ Đại hội XIII đánh dấu sự trở lại rõ nét của tư duy phát triển hài hòa, coi văn hóa và con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tăng trưởng.
Đầu tư cho giáo dục, y tế, an sinh xã hội và chấn hưng văn hóa không chỉ nhằm bảo đảm công bằng xã hội, mà còn để kiến tạo một xã hội học tập, nơi năng lực sáng tạo được nuôi dưỡng từ gốc rễ. Một nền văn hóa khuyến khích tư duy độc lập, tinh thần khai phóng và trách nhiệm công dân chính là “hạ tầng mềm” không thể thiếu cho đổi mới sáng tạo bền vững.
Đối ngoại và môi trường hòa bình cho sáng tạo: Song song với cải cách trong nước, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện tiên quyết cho đầu tư dài hạn và phát triển khoa học - công nghệ.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, Việt Nam ngày càng được nhìn nhận là đối tác tin cậy, điểm đến an toàn cho dòng vốn công nghệ cao và chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính sự ổn định về chính trị, nhất quán về chính sách và chủ động hội nhập đã tạo “không gian chiến lược” để sáng tạo Việt Nam vươn ra thế giới.
Khi đất nước chọn sáng tạo làm con đường phát triển
TS Nguyễn Sĩ Dũng nói: “Nhìn một cách tổng thể, nhiệm kỳ Đại hội XIII có thể chưa phải là nhiệm kỳ của những bước nhảy vọt ngoạn mục về công nghệ hay những thành tựu mang tính đột phá tức thì. Tuy nhiên, đây lại là nhiệm kỳ mang dấu ấn rõ nét của một sự lựa chọn chiến lược mang tính nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước. Trong bối cảnh thế giới đang bước vào kỷ nguyên cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã thể hiện một sự lựa chọn dứt khoát: đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và vai trò của kinh tế tư nhân vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.
Lựa chọn ấy không hề dễ dàng. Đặt cược vào sáng tạo đồng nghĩa với việc chấp nhận cải cách thể chế sâu rộng, tháo gỡ các rào cản hành chính, phá vỡ những lối mòn tư duy đã tồn tại lâu năm. Đó cũng là quá trình đòi hỏi sự dũng cảm chính trị để chấp nhận rủi ro, bởi sáng tạo luôn đi kèm với thử nghiệm, thất bại và chi phí ban đầu. Nhưng đây là “canh bạc” mà Việt Nam không thể không đặt, nếu muốn thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và tiến gần hơn tới quỹ đạo phát triển bền vững.
Quan trọng hơn, việc đặt cược vào khoa học - công nghệ và kinh tế tư nhân không chỉ nhằm tạo ra những con số tăng trưởng mới, mà còn hướng tới việc tái cấu trúc nền kinh tế theo chiều sâu. Khi doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích đổi mới, khi hệ sinh thái khởi nghiệp được nuôi dưỡng, và khi nghiên cứu khoa học gắn chặt hơn với sản xuất - kinh doanh, sức cạnh tranh quốc gia sẽ không còn phụ thuộc vào lợi thế tạm thời, mà được xây dựng trên nền tảng năng lực nội sinh”.
Từ nền móng của nhiệm kỳ Đại hội XIII, con đường phía trước đã trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết: không sáng tạo thì không có tương lai. Giá trị lớn nhất của nhiệm kỳ này vì thế không chỉ nằm ở những kết quả trước mắt, mà ở việc xác lập một hệ quy chiếu phát triển mới. Đó là dấu mốc cho sự chuyển mình về tư duy, nơi sáng tạo không còn là khẩu hiệu, mà trở thành lựa chọn chiến lược không thể đảo ngược của Việt Nam trong hành trình vươn lên.