Trao đổi với VietTimes, đại diện Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Khoa học và Công nghệ) khẳng định Việt Nam đã chủ động hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng thí điểm có kiểm soát, nhằm tạo điều kiện cho công nghệ mới phát triển nhưng vẫn bảo đảm an ninh quốc gia và chủ quyền tần số.
Hai thay đổi cốt lõi mở đường cho dịch vụ Internet vệ tinh
Theo Cục Tần số vô tuyến điện, do công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp (LEO) có đặc thù rất khác biệt so với vệ tinh địa tĩnh truyền thống (GEO): số lượng vệ tinh cực lớn, vùng phủ toàn cầu, linh hoạt và thiết bị đầu cuối nhỏ, độ trễ truyền dẫn thấp do LEO gần trái đất nên số lượng thiết bị đầu cuối sử dụng nhiều hơn so GEO.
Trong khi đó, hệ thống pháp luật trước đây chủ yếu được xây dựng cho các mô hình vệ tinh truyền thống với số lượng thiết bị hạn chế và tính ổn định cao. Do đó, Việt Nam áp dụng cơ chế thí điểm có kiểm soát theo Nghị quyết của Quốc hội để vừa tạo không gian cho công nghệ mới, vừa bảo đảm yêu cầu an ninh quốc gia.
Từ thực tế trên, Cục Tần số vô tuyến điện đã tham mưu xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ việc triển khai Internet vệ tinh tại Việt Nam.
Không chỉ điều chỉnh quy hoạch phổ tần cho phép các hệ thống vệ tinh phi địa tĩnh liên lạc với thiết bị đầu cuối đặt trên tàu biển, tàu bay hoạt động trong băng tần Ku, cơ quan quản lý cho biết trọng tâm cải cách nằm ở 2 thay đổi lớn, mang tính cốt lõi.
Thứ nhất, về cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện, Việt Nam chuyển từ mô hình cấp phép cho từng thiết bị đầu cuối sang cấp phép tập trung cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc thù hệ thống LEO có quy mô thiết bị rất lớn và phân tán.
Thứ hai, về phương pháp xác định phí tần số, thay vì tính dựa trên vùng phủ sóng và băng thông như trước, cơ quan quản lý đề xuất tính phí theo quy mô thị trường, tức số lượng thiết bị đầu cuối sử dụng dịch vụ. Phương pháp này gắn quản lý kỹ thuật với hiệu quả khai thác kinh tế, giúp doanh nghiệp giảm áp lực tài chính trong giai đoạn đầu tư ban đầu và khuyến khích mở rộng quy mô khai thác thương mại.
Mức thu phí được thiết kế để tổng chi phí tần số nằm trong ngưỡng khuyến khích phát triển dịch vụ Internet vệ tinh LEO. Nội dung này đã được quy định cụ thể, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các doanh nghiệp như Starlink tham gia thị trường.
“Việc cấp phép cho doanh nghiệp và tính phí sử dụng tần số vô tuyến điện cho Doanh nghiệp thay cho việc cấp phép cho từng thuê bao đã giúp cải cách hành chính, giảm chi phí tuân thủ, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế”, đại diện Cục Tần số vô tuyến điện nêu rõ.
Điều kiện bảo vệ chủ quyền quỹ đạo
Đối với yêu cầu chia sẻ dữ liệu, đặt trạm gateway và phối hợp kỹ thuật trong nước, đại diện Cục Tần số vô tuyến điện cho biết các băng tần Starlink đề nghị cấp phép được quy hoạch sử dụng chung với nhiều nghiệp vụ khác. Vì vậy quá trình cấp phép các trạm gateway đều được tính toán kỹ nhằm không gây can nhiễu tới các hệ thống vô tuyến hiện hữu và bảo đảm thông tin thông suốt.
Trong hồ sơ đề nghị cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện, ở góc độ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, Starlink đã cam kết tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, kiểm tra và xử lý nhiễu có hại, cũng như các yêu cầu liên quan đến an toàn bức xạ vô tuyến điện.
Từ góc độ quản lý, Cục Tần số vô tuyến điện cho rằng thúc đẩy công nghệ mới phải đi cùng với bảo vệ chủ quyền quỹ đạo và tài nguyên tần số vô tuyến điện quốc gia.
Một trong những điều kiện quan trọng Cục Tần số vô tuyến điện đưa ra khi xem xét cho phép triển khai thí điểm các hệ thống vệ tinh quỹ đạo tầm thấp của Starlink, yêu cầu Starlink phải cam kết: “Không được gây cản trở, ảnh hưởng bất lợi trong việc phối hợp tần số và quỹ đạo vệ tinh phi địa tĩnh của Việt Nam trong tương lai”.
Theo Cục Tần số vô tuyến điện, đây là điểm then chốt nhằm bảo vệ chủ quyền không gian, đồng thời bảo đảm Việt Nam vẫn có khả năng phát triển hệ thống vệ tinh quỹ đạo tầm thấp riêng mà không gặp xung đột quỹ đạo hay can nhiễu tần số.
Với đặc thù hạ tầng vệ tinh xuyên biên giới, việc kiểm soát sử dụng băng tần và lưu lượng kết nối được thực hiện thông qua cơ chế cấp phép và giám sát khai thác.
Cục Tần số vô tuyến điện cho biết sau khi được cấp giấy phép sử dụng tần số, doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện ghi trong giấy phép. Cơ quan quản lý sẽ thực hiện giám sát quá trình khai thác nhằm bảo đảm việc sử dụng tần số đúng quy định pháp luật.
Theo cơ quan quản lý, cách tiếp cận hiện nay hướng tới mục tiêu kép: mở đường cho các dịch vụ Internet vệ tinh thế hệ mới phát triển tại Việt Nam, đồng thời giữ vững an ninh, an toàn thông tin và chủ quyền tài nguyên tần số quốc gia trong dài hạn.
Cục Tần số vô tuyến điện đã cấp giấy phép cho Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam triển khai các trạm cổng (gateway) sử dụng băng tần E và Ka. Các điểm đặt hệ thống thiết bị vô tuyến điện, đồng thời thực hiện chức năng trung chuyển và lưu trữ dữ liệu trong mạng lưới cung cấp dịch vụ Internet vệ tinh.
Theo giấy phép được cấp, Starlink Services Việt Nam được phép sử dụng tần số và lắp đặt thiết bị phục vụ dịch vụ cố định qua vệ tinh tại 4 địa điểm gồm: phường Liên Chiểu 2, TP Đà Nẵng (trạm Gateway Starlink Đà Nẵng); xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ (trạm Gateway Starlink Phú Thọ); phường Tăng Nhơn Phú, TP.HCM (trạm Gateway Starlink TP.HCM 1); và phường Tân Thuận, TP.HCM (trạm Gateway Starlink TP.HCM 2).
Việc thí điểm kinh doanh dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp được thực hiện trong thời gian 5 năm, kể từ ngày doanh nghiệp do tổ chức thí điểm thành lập tại Việt Nam được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông và sẽ phải kết thúc trước ngày 1/1/2031.
Đây là dịch vụ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp của SpaceX, cho phép cung cấp Internet tốc độ cao, độ trễ thấp, đặc biệt hiệu quả tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo.