Phụ nữ Việt đang “lười đẻ”?

VietTimes – Hiện nay, ở các khu vực đô thị, kinh tế xã hội phát triển, mức sinh của phụ nữ thấp, có nơi rất thấp.

Ông Mai Trung Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Quy mô dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Ảnh: Thảo Vy)

Ông Mai Trung Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Quy mô dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Ảnh: Thảo Vy)

Thông tin trên được ông Mai Trung Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ Quy mô dân số - Kế hoạch hóa gia đình – cho biết tại hội thảo cung cấp thông tin định hướng mới của Chương trình Dân số Việt Nam do Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế tổ chức vào sáng nay (11/11).

Theo ông Sơn, mức sinh giữa các vùng, địa phương trên cả nước có sự khác biệt đáng kể. Thực tế, ở khu vực khó khăn lại có mức sinh cao, có nơi rất cao, trong khi đó khu vực đô thị, kinh tế xã hội phát triển hầu như đều có mức sinh thấp, có nơi rất thấp. Thực trạng này đang ảnh hưởng lớn đến mục tiêu dân số, nói rộng ra là sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta.

Cụ thể, có 33 tỉnh, thành phố ở Việt Nam có mức sinh cao (mức sinh > 2,2 con), chiếm 42% quy mô dân số. Đây hầu hết là các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế như trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên.

21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp (mức sinh < 2,0 con), chiếm 39% quy mô dân số. Tập trung chủ yếu ở các tỉnh thành có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển ở Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Đáng nói, mức sinh ở TP. Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế, lại ở nhóm thấp nhất cả nước (Mức sinh: 1,39 con).

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mức sinh “lệch chuẩn” là do mức sinh thấp, xu hướng kết hôn muộn, không muốn đẻ, đẻ ít, đẻ thưa ngày càng cao; tỷ lệ đô thị hóa tăng và phát triển kinh tế dẫn đến áp lực tìm kiếm việc làm, nhà ở, chi phí sinh hoạt, chi phí nuôi dạy và chăm sóc con cái đắt đỏ; học vấn, điều kiện sống được cải thiện, lối sống theo trào lưu và tâm lý thích hưởng thụ có tác động nhất định đến mức sinh.

“Đáng chú ý, tình trạng phá thai tại khu vực tư nhân phát triển mạnh nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ có thể dẫn tới hậu quả vô sinh” - ông Sơn nói.

Bên cạnh đó, mức sinh ở những khu vực khó khăn cao là do ảnh hưởng của văn hóa, phong tục tập quán và bất bình đẳng giới, xu hướng sinh nhiều con để có nhân lực tham gia lao động, sản xuất và phụng dưỡng, chăm sóc gia đình; tuổi kết hôn sớm và khoảng cách sinh con ngắn.

Ông Sơn cho hay, mức sinh cao tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục,…của địa phương. Còn ở các khu vực có mức sinh thấp kéo dài sẽ để lại nhiều hệ lụy như già hóa dân số nhanh, thiếu hụt lao động, ảnh hưởng đến an sinh xã hội.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nước trên thế giới đã thành công trong việc giảm sinh nhưng chưa có nước nào thành công trong việc đưa mức sinh rất thấp về mức thay thế cho dù có nhiều chính sách khuyến sinh với nguồn lực đầu tư lớn.

Từ thực trạng này, ông Sơn khẳng định việc điều chỉnh mức sinh là vô cùng cần thiết. “Việc duy trì mức sinh thay thế và giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương sẽ góp phần ổn định quy mô dân số, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực phát triển đất nước” - Ông Sơn nói.

Có thể bạn quan tâm