Trong bài viết trước, VietTimes đã chỉ ra một nghịch lý đáng suy nghĩ: khi giá nhà ngày càng vượt xa thu nhập, nhiều người trẻ phải lùi kế hoạch kết hôn, sinh con để lo ổn định chỗ ở. Khi những lựa chọn cá nhân ấy diễn ra trên diện rộng, chúng không còn là câu chuyện riêng của mỗi gia đình mà trở thành vấn đề dân số.
Nếu nhà ở là một trong những rào cản khiến người trẻ ngại sinh con, chính sách sẽ phải thay đổi thế nào để tháo gỡ rào cản này?
Nhà ở trở thành một phần của chính sách dân số
Bài toán mức sinh thấp không thể chỉ đặt trong phòng tư vấn dân số, mà phải được đặt cùng với bài toán việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế.
Theo GS Nguyễn Thiện Nhân, một số chính sách đột phá về kinh tế, xã hội và dân số trong 20 năm sắp tới 2025 - 2045 có ý nghĩa quyết định để ngăn chặn nguy cơ suy thoái lao động, dân số và suy giảm kinh tế trong 50 năm cuối của thế kỷ XXI và nguy cơ tự tiêu vong sau 200 năm.
Cục trưởng Cục Dân số Lê Thanh Dũng cho rằng mức sinh thấp là kết quả của nhiều yếu tố đan xen, trong đó có việc làm, thu nhập, nhà ở, phúc lợi xã hội, môi trường làm việc và khả năng cân bằng công việc - gia đình.
Nếu chỉ hỏi “vì sao người trẻ không muốn sinh?”, câu trả lời có thể dễ dàng rơi vào những định kiến về lối sống. Nhưng nếu hỏi thêm “điều gì khiến người muốn sinh lại không dám sinh?”, góc nhìn về chuyện này sẽ khác.
Một người có thể muốn sinh con nhưng chưa mua nổi nhà. Một gia đình có thể muốn sinh con thứ hai nhưng đang phải dành phần lớn thu nhập để trả khoản vay mua nhà. Một cặp đôi muốn kết hôn để sinh con nhưng lại trì hoãn vì chưa tìm được nơi ở đủ ổn định.
Vì vậy, chính sách dân số không chỉ cần khuyến khích sinh con mà còn phải giảm những rào cản khiến người dân không thể thực hiện mong muốn sinh con.
Bộ Y tế cũng xác định nhà ở là một trong những lĩnh vực cần được quan tâm khi hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh và nuôi con. Luật Dân số đã cụ thể hóa hướng tiếp cận này khi đưa nhà ở vào nhóm chính sách hỗ trợ. Trong đó có chính sách ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên.
Đây là một bước chuyển đáng chú ý: Nhà ở không còn chỉ được nhìn từ góc độ an sinh, mà đã được đặt trong bài toán tạo điều kiện để người dân sinh và nuôi con.
Nhưng chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi gặp được thực tế thị trường.
Giá nhà ngày càng xa khả năng chi trả
Tại Hà Nội, giá căn hộ sơ cấp bình quân được Savills ghi nhận khoảng 102 triệu đồng/m² vào đầu năm 2026; các căn hộ từ 4 tỷ đồng trở lên chiếm tỷ trọng đáng kể. Nguồn cung được dự báo cải thiện, nhưng mặt bằng giá được đánh giá khó giảm nhanh trong ngắn hạn, do chi phí phát triển cao và xu hướng dịch chuyển lên các sản phẩm chất lượng, trung và cao cấp.
Tại TP.HCM sau sáp nhập, CBRE ghi nhận giá căn hộ sơ cấp bình quân quý II/2026 khoảng 76 triệu đồng/m², tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Giá thứ cấp khoảng 62 triệu đồng/m², cũng tăng 26% so với cùng kỳ.
Những con số này cho thấy một nghịch lý: Thị trường có thể tăng nguồn cung nhưng người có nhu cầu ở thực vẫn khó tiếp cận nếu phần lớn sản phẩm mới có giá cao.
Nếu nhà ở xã hội và nhà ở vừa túi tiền không đủ nguồn cung, người trẻ vẫn phải cạnh tranh với mặt bằng giá của phân khúc thương mại. Khi đó, chính sách hỗ trợ sinh con có thể gặp một nghịch lý: Hỗ trợ tiền hoặc ưu đãi cho gia đình, nhưng khoản chi lớn nhất - chi phí chỗ ở - vẫn là một gánh nặng.
Nếu không tháo “nút thắt” nhà ở, khuyến sinh sẽ phải đi một con đường rất dài.
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh nếu không có giải pháp phù hợp, việc sinh ít con sẽ đẩy nhanh già hóa dân số, thu hẹp lực lượng lao động trẻ và làm tăng gánh nặng an sinh, chăm sóc người cao tuổi cũng như áp lực phát triển kinh tế - xã hội đối với chính thế hệ trẻ hôm nay.
Cục trưởng Cục Dân số Lê Thanh Dũng cho biết nếu mức sinh tiếp tục thấp, Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036; đến năm 2044, lực lượng trong độ tuổi lao động bắt đầu suy giảm; năm 2051 dân số bắt đầu tăng trưởng âm. Đến cuối giai đoạn dự báo, dân số có thể giảm bình quân khoảng 461.000 người mỗi năm.
Những con số ấy cho thấy mức sinh hôm nay chính là lực lượng lao động của vài chục năm sau. Một đứa trẻ không chỉ là thành viên mới của một gia đình. Hai mươi năm sau, đó là một sinh viên, một kỹ sư, bác sĩ, công nhân, giáo viên, doanh nhân; 30-40 năm sau là một người đóng góp vào ngân sách, hệ thống an sinh và chăm sóc thế hệ trước.
Vì vậy, đầu tư để người trẻ có thể sinh và nuôi con không phải chỉ là “chi tiền để khuyến sinh”. Đó là đầu tư cho nguồn nhân lực tương lai.
Giá nhà cao không còn là chuyện bất động sản
Theo Báo cáo Chính sách Dân số Thế giới năm 20214, tính đến năm 2019, trên toàn cầu có 55 chính phủ có chính sách tăng mức sinh, 19 chính phủ tập trung vào việc duy trì mức sinh hiện tại. Các nhóm biện pháp chính gồm: Ưu đãi tài chính: Tiền thưởng cho việc sinh con, ưu đãi thuế, trợ cấp tiền mặt hằng tháng cho trẻ em; hỗ trợ thuê nhà, mua nhà ở.
Ở Việt Nam, Bộ Y tế cũng đã chỉ rõ chi phí thuê hoặc mua nhà là một trong những sức ép khiến các cặp vợ chồng trẻ cân nhắc sinh muộn, sinh ít hoặc không sinh.
Nhìn rõ rào cản này trong việc khuyến sinh, GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, cũng cho rằng Nhà nước nên hỗ trợ tài chính cho các gia đình trẻ như ưu tiên mua nhà ở xã hội, miễn giảm học phí, thuế thu nhập cá nhân.
Với tinh thần ấy, Luật Dân số đã quy định hàng loạt chính sách cụ thể: Bên cạnh tăng thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ sinh con thứ hai lên 07 tháng, Luật còn quy định hỗ trợ tài chính đối với một số nhóm đối tượng và ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên.
Ngoài ra, Luật phân cấp cho chính quyền địa phương, căn cứ khả năng cân đối ngân sách và điều kiện thực tiễn, có thể quy định thêm các biện pháp phù hợp để duy trì mức sinh thay thế.
Cơ quan quản lý đã tiếp cận hợp lý khi nhìn nhà ở như một trong những điều kiện nền tảng giúp người trẻ thực hiện mong muốn sinh con. Với một gia đình đang muốn sinh con, việc có một chỗ ở ổn định, phù hợp với thu nhập chắc chắn sẽ làm giảm một phần đáng kể áp lực.
Muốn tăng mức sinh, phải giảm áp lực nhà ở
Muốn nâng mức sinh bền vững, chính sách nhà ở cần đi trước một bước, không chỉ tăng số lượng nhà ở xã hội mà phải kéo mặt bằng giá nhà về gần hơn với khả năng chi trả của người có thu nhập trung bình và người trẻ. Cần tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá vừa túi tiền tại những nơi có việc làm và giao thông thuận tiện; kiểm soát tình trạng đầu cơ, găm giữ đất và nhà ở; đồng thời phát triển các cơ chế vay dài hạn với lãi suất phù hợp cho gia đình trẻ.
Quan trọng hơn, quy hoạch nhà ở phải đi cùng quy hoạch dân số và việc làm: Đừng chỉ xây nhà ở nơi đất rẻ, mà phải tạo được những đô thị mà người trẻ có thể sống, làm việc, nuôi con với chi phí hợp lý.
Nhà ở xã hội cần thực sự đến được với các gia đình trẻ. Nhà ở vừa túi tiền cần trở thành một phần đủ lớn của thị trường, thay vì để người có nhu cầu ở thực phải chủ yếu lựa chọn giữa thuê nhà dài hạn hoặc vay một khoản quá lớn để mua nhà.
Đồng thời, cần tiếp tục giải quyết những yếu tố khác: Việc làm ổn định, thu nhập, dịch vụ giữ trẻ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thời gian nghỉ thai sản, môi trường làm việc thân thiện với gia đình. Các cặp vợ chồng trẻ cần có niềm tin rằng việc sinh thêm con không khiến cả gia đình rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài.
Đừng để hôm nay thiếu nhà, ngày mai thừa nhà
Bài toán nhà ở cũng cần được nhìn trong tầm nhìn dân số dài hạn. Nhật Bản là một cảnh báo đáng suy nghĩ: Khi dân số già hóa, người trẻ rời các vùng nông thôn để tập trung về đô thị, nhiều địa phương ngày càng vắng người, kéo theo tình trạng nhà bỏ trống và hạ tầng dư thừa.
Việt Nam cũng cần tính đến kịch bản này khi hoạch định nhà ở, đô thị và phân bố dân cư. Nếu hôm nay giá nhà tại các đô thị lớn vượt quá xa thu nhập, đẩy người trẻ vào cảnh trì hoãn kết hôn, sinh con, thì vài chục năm tới, khi quy mô dân số thu hẹp và thế hệ trẻ ít đi, một nghịch lý khác có thể xuất hiện: Một số nơi thiếu người ở trong khi nhà cửa, trường học và hạ tầng đã đầu tư lại dư thừa.
Vì vậy, chính sách nhà ở không chỉ cần giải bài toán “người trẻ mua được nhà”, mà còn phải được đặt trong quy hoạch dân số dài hạn, gắn với việc làm, giao thông, dịch vụ công và phân bố dân cư, để tránh cả hai cực: Hôm nay nhà quá đắt, ngày mai nhiều nơi lại không có người ở.
Điểm cốt lõi là đừng để những người muốn sinh con phải từ bỏ mong muốn ấy chỉ vì họ không đủ khả năng trang trải cuộc sống. Muốn vậy, chính sách dân số phải đi cùng chính sách nhà ở.
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên kêu gọi giới trẻ sinh con và nuôi dạy con tốt là góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình và đóng góp cho một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Để thông điệp ấy trở thành lựa chọn tự nguyện của nhiều gia đình trẻ, xã hội cũng phải tạo ra những điều kiện tương xứng.
Khi khoảng cách giữa giá nhà và thu nhập được thu hẹp, khi người trẻ có việc làm ổn định, có dịch vụ chăm sóc con cái và có niềm tin vào tương lai, quyết định sinh con mới có thể trở lại đúng với bản chất của nó: Một lựa chọn xuất phát từ mong muốn xây dựng gia đình, thay vì một phép tính đầy lo âu về khả năng trả nợ và chi phí cuộc sống.
Trong khoảng một thập kỷ qua, giá nhà ở đô thị tăng nhanh trong khi người Việt kết hôn ngày càng muộn và mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế.
Theo Cushman & Wakefield, giá căn hộ sơ cấp trung bình tại Hà Nội đã tăng 288% trong 10 năm, tương đương tốc độ tăng trưởng kép khoảng 11%/năm; giá nhà liền thổ cũng tăng 257%, tương đương 13%/năm.
Trong khi đó, tuổi kết hôn trung bình lần đầu tăng từ 25,2 tuổi năm 2019 lên 27,3 tuổi năm 2024. Mức sinh cũng giảm từ 2,10 con/phụ nữ năm 2015 xuống 1,91 năm 2024, tương đương giảm 9%, mức thấp nhất trong lịch sử được ghi nhận.
UNFPA cho biết hơn một nửa số người được hỏi xem các rào cản kinh tế là trở ngại để có số con mong muốn; trong đó, 19% lo ngại về nhà ở như chi phí quá cao hoặc thiếu không gian.
Một thập kỷ, giá căn hộ Hà Nội tăng gần 4 lần; người Việt kết hôn muộn hơn 2 tuổi, trong khi mức sinh giảm 9%.