Loại bỏ khối u màng não khổng lồ cho bệnh nhân bằng hệ thống định vị hiện đại và dao mổ siêu âm

VietTimes – Người phụ nữ 57 tuổi vừa được các bác sĩ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cứu sống bằng công nghệ định vị hiện đại để xác định đúng vị trí khối u màng não cánh lớn xương bướm khổng lồ, cùng hệ thống dao mổ siêu âm hỗ trợ. Đây cũng là lời cảnh báo về việc chớ coi thường dù là u lành tính.

 

BS. Vũ Quang Hiếu - Khoa Phẫu thuật Thần kinh II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức - đang thăm khám cho bệnh nhân sau phẫu thuật (Ảnh: BVCC)

BS. Vũ Quang Hiếu - Khoa Phẫu thuật Thần kinh II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức - đang thăm khám cho bệnh nhân sau phẫu thuật (Ảnh: BVCC)

Bệnh nhân D.T.D., 57 tuổi, sống ở Tứ Kỳ, Hải Dương nhập viện trong tình trạng có khối u màng não cánh lớn xương bướm khổng lồ, kích thước tới 62x59x50mm, nên đã chèn ép một thời gian dài khiến thị lực của chị D. bị giảm sút.  

Là người trực tiếp phẫu thuật cho bệnh nhân D., BS. Vũ Quang Hiếu cho biết: Khối u màng não đã bám toàn bộ cánh xương bướm trái của bệnh nhân. Mặc dù u màng não cánh xương bướm đa phần là u lành tính nhưng tăng sinh mạch rất nhiều. Mạch máu nuôi gồm 2 nguồn chính đó là: động mạch ở nền sọ thuộc hệ thống cảnh ngoài và các nhánh của động mạch từ não ra thuộc hệ thống động mạch cảnh trong.

Loại bỏ khối u màng não khổng lồ cho bệnh nhân bằng hệ thống định vị hiện đại và dao mổ siêu âm ảnh 1

BS. Vũ Quang Hiếu xem phim chụp cho bệnh nhân (Ảnh: BVCC)

Vì vị trí đặc thù của khối u ở nền sọ cánh bướm, bọc xung quanh toàn bộ nhánh của động mạch cảnh gồm có động mạch cảnh đoạn trong sọ, chia ra động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau, toàn bộ cấu trúc lân cận gồm: dây thần kinh số II, dây thần kinh số III, dây thần kinh tri giác và dây thần kinh gần nhãn. U này thường có đặc điểm phát triển từ từ nên khi đến bệnh viện thì đã phát triển rất to.

Cùng với đó, do đặc điểm về mặt cấu trúc như thế, giải phẫu như thế và phát triển khối u nên việc phẫu thuật gặp khó khăn khi toàn bộ khối u dính mặc dù có thể không xâm lấn vào mạch nhưng lại dính vào các mạch máu não ở nền sọ từ động mạch cảnh cho đến động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch thông sau, các cấu trúc thần kinh, dây thần kinh II, dây thần kinh III. Đặc biệt, khi phẫu tích khối u, lấy hết khối u các bác sĩ mới nhìn thấy được các cấu trúc thần kinh cần bảo vệ.

Để có thể phẫu thuật bóc tách lấy hết khối u, các bác sĩ phải phối hợp giữa nhiều chuyên khoa. Các bác sĩ Khoa Chẩn đoán hình ảnh chụp động mạch và nút mạch phần nuôi khối u. Trước khi nút mạch, động mạch tăng sinh rất nhiều. Sau nút mạch phần mạch máu cấp vào u còn ít. Nút mạch làm giảm nguồn cung cấp máu cho khối u làm giảm nguy cơ chảy máu khi phẫu thuật.

Loại bỏ khối u màng não khổng lồ cho bệnh nhân bằng hệ thống định vị hiện đại và dao mổ siêu âm ảnh 2

BS. Vũ Quang Hiếu thăm khám cho bệnh nhân sau phẫu thuật (Ảnh: BVCC)

BS. Nguyễn Đức Anh – Khoa Phẫu thuật Thần kinh II, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức – cho biết: Ca phẫu thuật cho bệnh nhân kéo dài gần 12 giờ đồng hồ. Khối u lớn nên các bác sĩ phải dùng các hệ thống định vị hiện đại để cắt khối u, cùng hệ thống dao mổ siêu âm hỗ trợ, giảm bớt thể tích khối u mới có thể phẫu tích khối u ra khỏi cấu trúc mạch máu thần kinh và nền sọ được và có thể bảo toàn được những cấu trúc đó.

Đặc điểm của khối u màng não cánh lớn xương bướm đa phần là lành tính, phát triển từ từ nên người bệnh có sức chịu đựng, đến khi phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu không được xử lý và điều trị kịp thời thì trường hợp xấu nhất xảy ra là bệnh nhân bị chèn ép não, hôn mê, liệt. Khi bệnh nhân đến muộn, việc phẫu tích khối u sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức. U màng não là loại u thường gặp, có thể gặp ở nhiều vị trí: ở nền sọ trước, giữa hay sau. Với u màng não cánh xương bướm, tùy theo vị trí bám của khối u mà chia ra làm u ở 1/3 ngoài, 1/3 giữa, 1/3 trong.

Các bác sĩ khuyến cáo, mặc dù là khối u lành tính nhưng khi khối u phát triển chèn ép gây mờ mắt, người bệnh sẽ có những dấu hiệu như: đau đầu chỉ thoáng qua, thị lực giảm, lời nói không chuẩn xác,… cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám, chẩn đoán, phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.