Hơn 43 năm xây dựng và phát triển, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã quy tụ, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ.
Qua các thời kỳ, những người đứng đầu VUSTA đều là những nhà khoa học có uy tín, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội. Mỗi người để lại một dấu ấn riêng và cùng tạo nên một dòng chảy xuyên suốt: trí tuệ gắn với trách nhiệm, khoa học gắn với thực tiễn và cống hiến gắn với lợi ích quốc gia, dân tộc.
GS.VS Trần Đại Nghĩa: Đặt nền móng, khẳng định vai trò của trí thức KH&CN
Ngày 26/3/1983, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được thành lập, trở thành tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam. Từ những ngày đầu với chỉ 15 hội thành viên, tổ chức từng bước xây dựng nền móng, tập hợp và phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội lần thứ nhất đã bầu thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ, 1913-1997) làm Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Hội Việt Nam.
Trong những năm đầu còn nhiều khó khăn, ông dành tâm huyết và sức lực xây dựng tổ chức, từng bước khẳng định vị trí của Liên hiệp Hội Việt Nam trong đời sống khoa học, kinh tế và xã hội. Sau đó, ông được các nhà khoa học và các hội thành viên suy tôn làm Chủ tịch danh dự nhiệm kỳ II, nhiệm kỳ III và giữ danh hiệu này đến cuối đời.
Ông là một trong những nhà khoa học tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX.
Những đóng góp nổi bật của ông trong khoa học quân sự và công nghiệp quốc phòng gắn liền với một quan điểm nhất quán: tri thức phải được đặt trong mối quan hệ với vận mệnh đất nước và phục vụ những nhiệm vụ lớn của dân tộc.
GS.TS Hà Học Trạc: Đưa khoa học - công nghệ gắn với phong trào thi đua lao động sáng tạo
Tiếp nối nhiệm vụ xây dựng tổ chức, GS.TS Hà Học Trạc đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa II và III. Ông là nhà khoa học, nhà giáo và nhà quản lý khoa học, có nhiều đóng góp cho giáo dục đại học, kỹ thuật điện và công tác tập hợp đội ngũ trí thức.
Trong giai đoạn này, Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục củng cố vai trò là diễn đàn của đội ngũ trí thức, nơi các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trao đổi, đề xuất và đóng góp ý kiến đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.
Một dấu ấn đáng chú ý là việc thúc đẩy phong trào sáng tạo kỹ thuật. GS.TS Hà Học Trạc là một trong những người khởi xướng thành lập Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC), góp phần hình thành môi trường khuyến khích sáng tạo, từ ươm mầm ý tưởng đến tôn vinh những thành tựu của đội ngũ trí thức và người lao động.
GS.VS Vũ Tuyên Hoàng: Đưa khoa học đến gần hơn với đời sống
GS.VS Vũ Tuyên Hoàng là Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa IV và V. Ông là nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng và đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất.
Ông là tác giả của lý thuyết hai hệ thống gen trong cây lúa và nhiều công trình được công nhận ở cấp quốc gia, trong đó có các giống lúa mới, giống lúa chịu hạn, giống lúa chịu ngập úng cùng nhiều nghiên cứu về rau quả, khoai tây và các biện pháp kỹ thuật thâm canh.
Trên cương vị Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam, dấu ấn của GS.VS Vũ Tuyên Hoàng tiếp tục gắn với quan điểm đưa khoa học đến gần hơn với đời sống.
Khoa học, theo tinh thần đó, không chỉ dừng lại ở công trình nghiên cứu mà phải tạo ra năng suất, chất lượng, sinh kế và những giá trị phát triển cụ thể. Quan điểm này đặc biệt có ý nghĩa đối với nông nghiệp và nông thôn, nơi việc đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất có tác động trực tiếp đến đời sống người dân.
PGS.TS Hồ Uy Liêm: Thúc đẩy xã hội hóa khoa học, công nghệ, tư vấn và phản biện
Nếu các thế hệ đầu đặt nền móng và từng bước định hình vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam, thì PGS.TS Hồ Uy Liêm để lại dấu ấn rõ nét trong việc thúc đẩy xã hội hóa khoa học, công nghệ và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện.
Ông có gần 20 năm gắn bó với Liên hiệp Hội Việt Nam, từng đảm nhiệm nhiều vị trí từ Trưởng ban Hợp tác quốc tế, Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký đến Quyền Chủ tịch trong giai đoạn từ tháng 8/2008 đến tháng 4/2010.
Trong công tác hội, PGS.TS Hồ Uy Liêm đề cao dân chủ, hợp tác và sáng tạo; chú trọng phát huy sở trường của từng nhà khoa học, hạn chế hành chính hóa hoạt động hội và thúc đẩy xã hội hóa khoa học, công nghệ.
Dấu ấn của ông còn thể hiện qua hoạt động tư vấn, phản biện đối với nhiều chương trình, dự án quan trọng như giáo dục - đào tạo, Dự án Thủy điện Sơn La, dự án đường Hồ Chí Minh qua rừng Quốc gia Cúc Phương, dự án thay nước Hồ Tây, dự án khai thác bauxite Tây Nguyên và dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam.
Những hoạt động này góp phần làm rõ hơn một vai trò ngày càng quan trọng của Liên hiệp Hội Việt Nam: đưa tiếng nói độc lập, khách quan và dựa trên cơ sở khoa học của đội ngũ trí thức tham gia vào quá trình xem xét, hoạch định và thực thi những vấn đề lớn của đất nước.
GS.VS Đặng Vũ Minh: Nâng cao vị thế trí thức, tư vấn – phản biện và tham gia chính sách
GS.VS Đặng Vũ Minh là Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa VI và VII. Ông là nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực vật lý, hóa học hạt nhân và nghiên cứu khoa học cơ bản. Ông từng đảm nhiệm nhiều cương vị trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và hoạt động Quốc hội.
Trên cương vị Chủ tịch, GS.VS Đặng Vũ Minh chú trọng củng cố tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức; đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội.
Đây cũng là giai đoạn hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam từ Trung ương đến địa phương, các hội ngành và các tổ chức khoa học - công nghệ trực thuộc tiếp tục phát triển. Vai trò của đội ngũ trí thức trong tham gia xây dựng chính sách và đóng góp ý kiến đối với những vấn đề phát triển của đất nước ngày càng được thể hiện rõ nét hơn.
Từ nền tảng được xây dựng qua nhiều nhiệm kỳ, Liên hiệp Hội Việt Nam từng bước chuyển mạnh từ yêu cầu tập hợp lực lượng sang phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ, đưa tiếng nói của các nhà khoa học tham gia sâu hơn vào đời sống chính sách và thực tiễn phát triển.
GS.TSKH Phan Xuân Dũng khẳng định vai trò của trí thức trong hoạch định chính sách
Nhiệm kỳ khóa VIII, GS.TSKH Phan Xuân Dũng đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng của phát triển đất nước.
Đây cũng là thời kỳ đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với Liên hiệp Hội Việt Nam trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức mà còn phải kết nối hiệu quả tri thức với Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và xã hội.
Trên cương vị Chủ tịch, GS.TSKH Phan Xuân Dũng chú trọng duy trì và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, đồng thời chỉ đạo hoàn thành xây dựng Tòa nhà Liên hiệp Hội Việt Nam - ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Công trình góp phần tạo dựng không gian hoạt động chung và nâng cao hình ảnh, vị thế của Liên hiệp Hội Việt Nam trong quan hệ đối nội, đối ngoại.
Nhìn lại các thế hệ Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam, mỗi người có chuyên môn, dấu ấn và hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng cùng điểm chung nổi bật ở các thế hệ lãnh đạo là trí tuệ cá nhân luôn được đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm xã hội và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đó là dòng chảy liên tục của trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Nhà khoa học không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, giảng đường hay viện nghiên cứu, mà còn tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, đóng góp vào đời sống chính sách và thực tiễn phát triển. Chính sự gắn kết giữa tri thức với thực tiễn, giữa khoa học với trách nhiệm xã hội đã góp phần làm nên giá trị và vị thế của đội ngũ trí thức Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhiệm kỳ 2026-2031 tổ chức ngày 27-28/8 của VUSTA diễn ra trong thời điểm tổ chức bước vào một chặng đường mới, với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, đồng thời phát huy hiệu quả hơn nữa nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức.
Liên hiệp Hội Việt Nam đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách; đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội; mở rộng kết nối giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng; đồng thời tạo thêm không gian để trí thức tham gia giải quyết những bài toán lớn của đất nước.
Trong đó, xây dựng văn hóa phản biện khoa học là một yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt. Phản biện cần khách quan nhưng không cực đoan; thẳng thắn nhưng mang tính xây dựng; chỉ ra hạn chế nhưng đồng thời đề xuất giải pháp; dựa trên bằng chứng nhưng luôn đặt trong bối cảnh thực tiễn của đất nước.