Nghị quyết Đại hội Đảng XIV xác định tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.
Để hiện thực hóa Nghị quyết của Đảng, chúng ta đang đứng trước những thuận lợi và thách thức gì, và muốn trở thành nước phát triển, Việt Nam cần phải giải bài toán nào trước tiên? Đó là câu hỏi mà VietTimes đã đặt ra với PGS.TS Nguyễn Ái Việt, Viện trưởng Viện Công nghệ và Giáo dục trí tuệ mới tạo sinh (IGNITE).
- Thưa PGS.TS Nguyễn Ái Việt, để hiện thực hóa tầm nhìn trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần phải giải bài toán nào trước tiên?
- Theo tôi, bài toán Việt Nam phải giải trước là tạo dựng một động lực phát triển mới, gồm hai thành tố gắn bó với nhau: văn hóa đổi mới sáng tạo và mô hình tăng trưởng mới.
Trước hết, tư duy đổi mới sáng tạo phải trở thành văn hóa mới của dân tộc. Mỗi người Việt Nam cần hình thành thói quen không bằng lòng với cách làm cũ; biết đặt câu hỏi, phát hiện vấn đề, tìm giải pháp tốt hơn và dám chịu trách nhiệm về sáng kiến của mình. Khi đó, đổi mới sáng tạo không còn là khẩu hiệu được phát động từ trên xuống, mà trở thành bản năng tự giác của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn xã hội.
Văn hóa ấy phải được nuôi dưỡng từ gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức mà phải hình thành con người biết suy nghĩ độc lập, có trí tưởng tượng, biết hợp tác và dám thử nghiệm. Bộ máy nhà nước không chỉ làm đúng quy trình mà phải chủ động tìm cách giải quyết những vấn đề mới. Doanh nghiệp không thể chỉ khai thác lợi thế sẵn có mà phải liên tục tạo ra công nghệ, sản phẩm và phương thức kinh doanh mới.
Nhưng văn hóa đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát huy khi được đặt trong một mô hình tăng trưởng phù hợp. Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, đất đai, tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, khoa học – công nghệ, tài sản trí tuệ và doanh nghiệp Việt Nam. Người sáng tạo phải có cơ hội tiếp cận vốn, dữ liệu, phòng thí nghiệm và thị trường; còn những doanh nghiệp tạo ra công nghệ và giá trị mới phải được hưởng thành quả xứng đáng.
Theo PGS.TS Nguyễn Ái Việt, văn hóa đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát huy khi được đặt trong một mô hình tăng trưởng phù hợp. Ảnh: Viettel.
Thể chế có nhiệm vụ kết nối văn hóa mới với mô hình tăng trưởng mới: khuyến khích sáng tạo, bảo vệ người dám làm, chấp nhận thử nghiệm có kiểm soát và đưa nguồn lực đến những nơi có khả năng tạo ra giá trị cao nhất.
Tóm lại một cách ngắn gọn: Muốn trở thành nước phát triển, Việt Nam phải tạo dựng một động lực phát triển mới: biến tư duy đổi mới sáng tạo thành văn hóa của dân tộc, để sáng tạo trở thành bản năng tự giác; đồng thời xây dựng một mô hình tăng trưởng có khả năng biến những sáng tạo ấy thành năng suất, sản phẩm, doanh nghiệp và sức mạnh quốc gia.
- Thưa ông, đâu là những "nút thắt" lớn nhất trong thể chế quản lý hiện nay đang làm cản trở các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và cần phải được tháo gỡ ra sao?
- Trước hết là điểm nghẽn về thể chế. Trong khu vực công, nút thắt lớn nhất hiện nay là cơ chế tài chính chưa phù hợp với bản chất của nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Cơ chế hiện hành chủ yếu được thiết kế cho những nhiệm vụ có mục tiêu, sản phẩm, chi phí và tiến độ có thể xác định trước. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo luôn chứa đựng bất định: phải thử nghiệm, có thể thay đổi phương án và đôi khi phải chấp nhận thất bại để tìm ra cái mới.
Khi áp dụng cơ chế tài chính hành chính vào hoạt động sáng tạo, rất nhiều thời gian bị tiêu tốn cho lập dự toán, thẩm định, đấu thầu, điều chỉnh thủ tục, thanh quyết toán và kiểm tra chứng từ. Một thiết bị, một chuyên gia hoặc một công nghệ cần được quyết định đúng thời điểm có thể phải chờ đợi quá lâu. Nhưng cơ hội công nghệ và cơ hội thị trường không chờ chúng ta hoàn thành thủ tục. Sự chậm trễ trong quyết định cuối cùng trở thành sự đánh mất cơ hội phát triển.
Cùng với đó, chúng ta chưa có một hành lang pháp lý đủ rõ để bảo vệ người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nếu mọi quyết định đổi mới đều bị đánh giá theo kết quả cuối cùng hoặc theo cách hiểu máy móc về quy trình, lựa chọn an toàn nhất của người quản lý sẽ là không quyết định và không thử nghiệm.
Bởi vậy, cần chuyển từ quản lý nặng về đầu vào và chứng từ sang quản lý theo mục tiêu, mốc kết quả và tác động; đồng thời phân biệt rõ thất bại trung thực trong quá trình tìm cái mới với hành vi tư lợi, thất thoát hoặc thiếu trách nhiệm. Bảo vệ người dám làm không phải là miễn trừ trách nhiệm, mà là bảo vệ những quyết định có căn cứ chuyên môn, được thực hiện minh bạch và không có xung đột lợi ích.
- Còn về điểm nghẽn nhân lực thì sao, theo ông, Việt Nam đang thiếu hụt những yếu tố cốt lõi nào và làm thế nào để xây dựng một nguồn nhân lực thực sự khát vọng, đáp ứng yêu cầu phát triển mới?
- Việt Nam không thiếu người thông minh, cần cù và có khả năng thích nghi nhanh. Điều còn thiếu không chỉ là một số kỹ năng chuyên môn, mà sâu hơn là khát vọng đổi mới sáng tạo, khát vọng làm chủ công nghệ và tạo ra những sản phẩm có giá trị cho đất nước.
Một nền giáo dục chủ yếu yêu cầu học đúng, làm đúng và tránh sai khó hình thành những con người dám đặt câu hỏi, dám phản biện, dám thử nghiệm và theo đuổi những vấn đề chưa có sẵn lời giải. Vì vậy, phát triển nhân lực không thể chỉ được đo bằng số lượng kỹ sư, thạc sĩ hay tiến sĩ. Chúng ta cần những con người có tư duy độc lập, có năng lực tự học và nghiên cứu, biết hợp tác liên ngành, đồng thời có ý chí biến tri thức thành hành động.
Khát vọng ấy phải được nuôi dưỡng từ gia đình và nhà trường, được khuyến khích trong cơ quan và doanh nghiệp, được tưởng thưởng bằng cơ hội phát triển thực sự. Tư duy đổi mới sáng tạo phải trở thành một văn hóa mới của dân tộc, để sáng tạo không còn là phong trào được phát động từ trên xuống mà trở thành một bản năng tự giác trong học tập, lao động, quản lý và kinh doanh.
- Trước đây chúng ta hay tự hào về lao động giá rẻ. Nhưng lao động giá rẻ thì năng suất lao động lại thấp. Để giải bài toán năng suất lao động còn thấp, làm sao chúng ta có thể tận dụng làn sóng Trí tuệ nhân tạo (AI) một cách trúng đích và hiệu quả nhất, thưa ông?
- Chính vì thế nên tôi coi điểm nghẽn thứ ba mà chúng ta cần tháo gỡ là năng suất. Năng suất thấp không thể khắc phục chỉ bằng cách yêu cầu người lao động làm việc nhiều hơn. Năng suất phải đến từ kỹ năng, công nghệ, quản trị và cách tổ chức công việc tốt hơn. Đặc biệt, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đang mở ra cho Việt Nam một cơ hội mới để rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước.
AI có thể thay đổi cách con người học tập, nghiên cứu, quản trị, sản xuất và cung cấp dịch vụ công. Nhưng cơ hội này chỉ có ý nghĩa nếu Việt Nam triển khai nhanh và trúng đích. Chúng ta không nên đồng nhất ứng dụng AI với việc mua một số phần mềm, xây dựng vài trợ lý ảo hoặc phát động một phong trào sử dụng công cụ mới. Cần bắt đầu từ những điểm nghẽn cụ thể trong từng ngành, từng cơ quan và từng doanh nghiệp; sau đó dùng AI để tái thiết kế quy trình, hỗ trợ ra quyết định, giảm những công việc lặp lại và nâng cao chất lượng đầu ra.
Đầu tư cho R&D không chỉ là mua thiết bị mà phải tạo ra năng lực nghiên cứu, công nghệ, tài sản trí tuệ, sản phẩm và doanh nghiệp. Ảnh: Viettel.
Cần ưu tiên những lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn như quản trị công, giáo dục, y tế, sản xuất, logistics, nông nghiệp và nghiên cứu khoa học. Mỗi chương trình ứng dụng AI phải gắn với một chỉ tiêu năng suất cụ thể và đo lường được. AI là một cửa sổ cơ hội, nhưng cửa sổ ấy không mở mãi: chậm triển khai sẽ làm mất lợi thế, còn triển khai dàn trải và chạy theo hình thức sẽ gây lãng phí nguồn lực.
- Thưa ông, mục tiêu dành 2% GDP cho R&D vào năm 2030 là một thách thức rất lớn. Vậy Việt Nam cần làm gì để chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực công nghệ thực chất?
- Năng lực công nghệ của một quốc gia gồm hai mặt: khả năng tiếp thu công nghệ từ thế giới và khả năng tự sáng tạo công nghệ mới. Việt Nam còn hạn chế ở cả hai mặt vì chưa đầu tư đầy đủ và có hệ thống vào năng lực nghiên cứu và phát triển, tức R&D.
Mua được thiết bị hoặc nhập khẩu dây chuyền không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ. Làm chủ đòi hỏi khả năng hiểu nguyên lý, vận hành, tích hợp, cải tiến, thiết kế lại và tiến tới tạo ra công nghệ mới. Điều đó không thể có nếu thiếu đội ngũ nghiên cứu mạnh, người lãnh đạo khoa học, phòng thí nghiệm, dữ liệu, mạng lưới hợp tác quốc tế, tổ chức R&D trong doanh nghiệp và cơ chế đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm hơn 60%. Đây là một mục tiêu rất cao, đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực rất lớn mới có thể đạt được. Nhưng vấn đề không chỉ là huy động đủ tiền. Quan trọng hơn là phải biến nguồn đầu tư ấy thành năng lực nghiên cứu, công nghệ, tài sản trí tuệ, sản phẩm và doanh nghiệp. Nếu cơ chế tài chính không thay đổi, tổ chức R&D không được cải tổ và doanh nghiệp không trở thành chủ thể đầu tư chính, thì tăng chi chưa chắc tạo ra năng lực công nghệ tương xứng.
- Bên cạnh các yếu tố trên, hạ tầng R&D tại Việt Nam đang gặp bất cập gì và đâu là phương pháp luận mới để khắc phục tình trạng đầu tư thiếu hiệu quả như thời gian qua?
- Đối với khoa học và công nghệ, điểm yếu nổi bật không chỉ là thiếu phòng thí nghiệm mà là chưa có một phương pháp luận đúng để đầu tư hạ tầng R&D. Cách đầu tư cho nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trước đây chưa tạo ra năng lực tương xứng với nguồn lực bỏ ra.
Đầu tư còn dàn trải và thiên về xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị hơn là hình thành đội ngũ, năng lực nghiên cứu và chương trình hoạt động lâu dài. Có nơi thiết bị hiện đại nhưng thiếu chuyên gia vận hành, thiếu nhiệm vụ nghiên cứu lớn, thiếu kinh phí hoạt động và thiếu kết nối với doanh nghiệp.
- Vậy thưa ông, để hạ tầng R&D phát huy tối đa hiệu quả, chúng ta cần thay đổi tư duy đầu tư như thế nào và mô hình nào có thể giải quyết được bài toán này?
- Đầu tư hạ tầng R&D không nên bắt đầu bằng câu hỏi “cần mua thiết bị gì?”, mà phải bắt đầu bằng ba câu hỏi: Việt Nam cần giải quyết bài toán nào, phải làm chủ năng lực nào và kết quả cuối cùng phải tạo ra sản phẩm gì? Thiết bị chỉ là một thành phần; cốt lõi vẫn là con người, tổ chức nghiên cứu và chuỗi kết nối từ tri thức đến thị trường.
Để giải quyết vấn đề này, Viện IGNITE của chúng tôi xây dựng mô hình Hub- Spokes- Living Labs.
Hub là trung tâm năng lực, tập trung đội ngũ hạt nhân, những thiết bị cốt lõi và khả năng điều phối các chương trình R&D lớn.
Spokes là mạng lưới phòng thí nghiệm tại các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, mỗi đơn vị đảm nhiệm một năng lực chuyên sâu, cùng sử dụng nguồn lực và tránh đầu tư trùng lặp.
Living Labs là môi trường thử nghiệm thực tế, nơi công nghệ được kiểm chứng, hoàn thiện, đánh giá tiêu chuẩn và kết nối với người sử dụng cũng như thị trường.
Với mô hình này, hạ tầng R&D không còn là tập hợp những tòa nhà và thiết bị rời rạc, mà trở thành một hệ thống liên tục từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm đến thương mại hóa.
Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là, muốn đạt mục tiêu 2045, Việt Nam phải tháo được chiếc phanh của cơ chế tài chính công; khơi dậy khát vọng đổi mới sáng tạo trong con người Việt Nam;
Tận dụng nhanh và trúng cơ hội nâng cao năng suất bằng AI; đầu tư thực chất vào năng lực R&D; Đồng thời tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo một phương pháp luận mới. Khi năm điểm nghẽn này được tháo gỡ như một hệ thống, tư duy đổi mới sáng tạo mới có thể trở thành văn hóa của dân tộc, còn mô hình tăng trưởng mới mới thực sự vận hành.
- Xin cám ơn ông!
Nội dung: Lê Thọ Bình - Thiết kế: Minh Khang