2021 - 2025 là giai đoạn thế giới đối mặt với nhiều thách thức, biến động. Dịch Covid-19 bùng phát, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thiên tai diễn biến phức tạp và căng thẳng địa chính trị leo thang tại nhiều quốc gia.
Trong bối cảnh đó, nền tảng vĩ mô của Việt Nam vẫn được củng cố vững chắc, đủ sức ứng phó với các cú sốc bên ngoài và tạo dư địa cho tăng trưởng cao trong những năm tới.
VietTimes điểm lại một số thành tựu nổi bật về kinh tế của Việt Nam trong 5 năm qua.
Tăng trưởng GDP thuộc nhóm cao nhất thế giới
Tăng trưởng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) trung bình giai đoạn 2021-2025 đạt 6,3%, cao hơn so với 5 năm trước. Nếu không tính năm 2021 phải chịu tác động mạnh của dịch Covid-19, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022-2025 sẽ đạt 7,13%, cao hơn mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm.
Riêng mức tăng trưởng 8,02% năm 2025 là mức tăng trưởng dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao nhất thế giới. Đây là kết quả của một loạt những cải cách mang tính chiến lược về nền tảng pháp lý và thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy nền kinh tế, tập trung đẩy mạnh đầu tư vào các dự án hạ tầng chủ chốt và đồng thời cải thiện tính hiệu quả của hệ thống chính quyền.
Theo đánh giá của Nikkei Asia, kết nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được khả năng chống chịu tốt, bất chấp năm 2025 là một năm nhiều biến động đối với thương mại toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ áp thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam.
Việt Nam tiếp tục giữ xếp hạng tín nhiệm quốc gia BB+ và Ba2 với triển vọng ổn định theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody’s.
Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận triển vọng tích cực, trong đó IMF xếp Việt Nam vào nhóm 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới, Standard Chartered dự báo thuộc nhóm 5 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á, còn World Bank đánh giá Việt Nam nằm trong 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật năm 2025.
Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng
Về mô GDP theo giá hiện hành 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm trước đó, gấp 1,4 lần so với năm 2021. Trong đó GDP bình quân đầu người 2025 tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD) và đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Trong 5 năm qua, GDP bình quân đầu người của Việt Nam có sự tăng trưởng tích cực như năm 2021 khoảng 3.700 USD, đứng thứ 6 trong khu khu vực Đông Nam Á (ASEAN) và xếp thứ 124 trên thế giới.
Đến năm 2024, Việt Nam đứng thứ 5 về chỉ số này trong ASEAN, chỉ sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Trên bình diện thế giới, GDP bình quân đầu người của Việt Nam xếp thứ 120.
Năm 2025, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo Việt Nam có thể thăng hạng lên vị trí thứ 4 trong ASEAN và cải thiện nhẹ ở thứ hạng thế giới.
Dòng vốn FDI ổn định
Về vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (FDI), kết quả trong năm 2025 đạt được khá khả quan với 38,42 tỷ USD. Trong đó vốn FDI thực hiện năm 2025 ước đạt khoảng 27,6 tỷ USD, tăng gần 9% so với năm trước và là mức cao nhất trong trong giai đoạn 2021-2025.
Kết quả này cho thấy năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế tiếp tục được cải thiện, đồng thời phản ánh nhiều dự án FDI đã bước vào giai đoạn triển khai thực chất, đóng góp trực tiếp vào sản xuất và tăng trưởng.
Nhìn lại giai đoạn 2021 – 2025, dòng vốn FDI đã duy trì sự ổn định và bền bỉ. Những kết quả này không chỉ gia cố niềm tin của nhà đầu tư quốc tế, mà còn mở ra giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam – thu hút FDI có chọn lọc hơn, gắn chặt đầu tư và thương mại với chất lượng tăng trưởng dài hạn.
Vào nhóm 25 nền kinh tế xuất nhập khẩu lớn nhất
Song hành với dòng vốn FDI, thương mại hàng hóa của Việt Nam trong 5 năm qua liên tục tăng trưởng. Năm 2021, dù kinh tế ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, Việt Nam vẫn xuất siêu 4 tỷ USD.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 ước đạt khoảng 930 tỷ USD. Kết quả này đã đưa Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất trên phạm vi toàn cầu.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hiện nay, Việt Nam xếp thứ 21 về xuất khẩu và xếp thứ 20 về nhập khẩu trên toàn cầu, tăng 11 bậc về xuất khẩu và 12 bậc về nhập khẩu so với thứ hạng của 10 năm trước.
Cùng với đó, cán cân thương mại hàng hoá thặng dư liên tiếp 10 năm đã đưa Việt Nam vào vị thế xuất siêu ổn định hơn với con số thặng dư thương mại hàng hoá trên 20 tỷ USD liên tiếp trong ba năm gần đây.
Năm 2025, dự kiến thặng dư thương mại đạt 21 tỷ USD. Trong đó, thặng dư thương mại chủ yếu đến từ khối FDI với 48,2 tỷ USD còn các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ USD.
Nhân lực bán dẫn là “đòn bẩy vàng”
5 năm qua, thị trường lao động Việt Nam ghi nhận nhiều điểm sáng quan trọng như quy mô việc làm tăng, thu nhập cải thiện, thất nghiệp duy trì ở mức thấp và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực.
Năm 2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 50,1 triệu người và liên tục tăng trưởng trong các năm tiếp theo và đạt hơn 53,3 triệu người vào năm 2025 - cho thấy Việt Nam đang trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với dân số trong độ tuổi lao động chiếm hơn 50% tổng dân số.
Một điểm sáng khác là tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 là 2,22%, giảm nhẹ so với năm trước và tương đương giai đoạn trước đại dịch Covid-19. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động giảm xuống 1,65%, cho thấy thị trường lao động cơ bản ổn định trong bối cảnh nền kinh tế duy trì tăng trưởng.
Bên cạnh đó, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực trong giai đoạn 2021 – 2025, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế.
Trong năm 2025, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,7% giảm so với mức 29,1% vào năm 2021. Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%, khu vực dịch vụ chiếm 40,8%, tăng lần lượt 0,4 và 3 điểm phần trăm so với năm 2021, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này trong tạo việc làm, gắn với phục hồi tiêu dùng trong nước, du lịch, vận tải và thương mại.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên mới, để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam xác định bán dẫn là công nghệ chiến lược, đóng vai trò then chốt. Bên cạnh những chính sách, chiến lược về phát triển khoa học công nghệ, chúng ta chủ trương đào tạo, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn thông qua việc tổ chức các khóa đào tạo, thực hành chuyên sâu, đồng thời hỗ trợ các trường đại học trong hoạt động thiết kế chip bán dẫn.
Chương trình Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 đề ra mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn. Trong đó, đào tạo ít nhất 42.000 kỹ sư, cử nhân; có ít nhất 7.500 học viên thạc sĩ và 500 nghiên cứu sinh; đào tạo ít nhất 15.000 nhân lực trong công đoạn thiết kế, ít nhất 35.000 nhân lực trong công đoạn sản xuất, đóng gói, kiểm thử và các công đoạn khác của ngành công nghiệp bán dẫn; đào tạo ít nhất 5.000 nhân lực có chuyên môn sâu về trí tuệ nhân tạo phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn.
Bên cạnh vị trí địa chính trị chiến lược ở trung tâm Đông Nam Á và năm gần các trung tâm sản xuất chip hàng đầu, sự chuẩn bị bài bản về nguồn nhân lực sẽ giúp Việt Nam có thêm những thuận lợi để đón dòng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, sẵn sàng bứt tốc với ngành bán dẫn chiến lược.