Người đàn ông ngồi lặng im trong căn phòng nhỏ ở khu tập thể Kim Liên sáng 1/5/1975 là thiếu tướng Đặng Trần Đức (mật danh Ba Quốc) - một trong những điệp viên huyền thoại của tình báo Việt Nam. Suốt hơn 20 năm hoạt động đơn tuyến trong lòng chính quyền Sài Gòn, ông là điệp viên hiếm hoi thâm nhập được vào cơ quan tình báo đầu não của đối phương, từ đó chuyển ra miền Bắc nhiều tin tức chiến lược.
Ông trở về Hà Nội khi Sài Gòn được giải phóng. Trong căn phòng nhỏ đông đủ vợ con, họ hàng, vị tướng tình báo năm ấy ngồi lặng im bên cốc nước, nhìn người vợ đã chờ mình suốt 21 năm mà không nói nên lời.
Đoàn tụ chưa đầy 2 ngày
Trưa 30/4/1975, loa phát thanh vang tin Sài Gòn giải phóng. Khi ấy 26 tuổi, bà Giang sống cùng mẹ, chồng và 2 con nhỏ ở Đông Anh. Vui mừng cuống quýt, gia đình bà chuẩn bị tem phiếu để mua thịt ăn mừng vì thể nào em đóng quân ở Phủ Lỗ cũng tranh thủ về nhà.
Sáng 1/5, vừa đạp xe về đến cổng, bà Giang thấy chú ruột từ khu tập thể Kim Liên (Hà Nội) hớt hải tới báo tin ông Đặng Trần Đức về.
“Lúc ấy tôi đứng sững. Mừng thì có mừng, nhưng đầu óc trống rỗng. Bố đi từ năm tôi 5 tuổi, không có lấy một tấm ảnh. Tôi chẳng biết mặt bố ra sao”, bà nhớ lại.
Một số người đạp xe về trước. Bà Giang cùng mẹ là Phạm Thị Thanh cùng con nhỏ ra ga Đông Anh, bắt tàu về nhà ở khu tập thể Kim Liên (Hà Nội) đón cha. Suốt quãng đường, bà hồi hộp nghĩ về người cha gắn với hình ảnh ngồi cạnh ngọn đèn dầu đêm nào.
“Mẹ tôi lạ lắm, cả quãng đường không nói gì, cũng không khóc, chỉ ngồi im”, bà Giang kể. Cậu em trai đến nhà trước, chạy lên cầu thang rồi ngoái xuống gọi: “Mẹ ơi, người ta bảo là bố con đấy, nhưng con không biết có phải không”.
Bà Thanh bước lên, rẽ vào căn phòng nhỏ. Trong nhà lúc này đông đúc họ hàng, người đàn ông ngồi ở bàn uống nước, gầy, da sạm, mặc bộ quần áo lính bạc màu.
Ông Đức ngước lên nhìn vợ. Bà Thanh cũng nhìn rồi gật đầu. Sau khi mọi người giới thiệu, ông Đức kéo con gái ra hành lang, dúi vào tay ít tiền và nói: “Con cầm lấy, đi chợ làm mâm cơm”.
Hôm đó, họ mua gà, rau rồi làm cơm mời họ hàng. Về nhà chưa đầy 2 ngày, ông Ba Quốc lại nhận lệnh trở vào Nam, tiếp quản Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo.
Sau 21 năm xa cách, vợ chồng ông Đức lại xa cách.
Cái gật đầu năm 1954
Từ cái gật đầu ngày đoàn tụ, bà Giang nhớ về cái gật đầu đầu tiên của mẹ, 21 năm trước.
Năm 1954, khi Hiệp định Geneve chuẩn bị được ký kết, tổ chức quyết định đưa ông Đặng Trần Đức vào Nam, tiếp tục bám địch và xây dựng mạng lưới tình báo chiến lược. Muốn đi sâu vào bộ máy đối phương, ông phải xóa sạch lý lịch, mang thân phận mới.
Để tạo lớp vỏ bọc đủ kín cho một điệp viên đi vào lòng địch, tổ chức bố trí ông kết hôn với bà Ngô Thị Xuân. Cuộc hôn nhân ấy là thật, không phải một cuộc cưới giả.
Người đầu tiên được báo chuyện này là bà Phạm Thị Thanh, người vợ lúc đó ở ngoài Bắc.
Bà Thanh không xa lạ gì với cách mạng. Bà từng làm trong ngành công an, từng cùng chồng tham gia phá vụ án Ôn Như Hầu ở phố Hàng Bún sau Cách mạng tháng Tám. Đến năm 1949, lấy ông Đức, bà mới rời công tác.
Khi nghe chồng nói phải vào Nam, phải xóa lý lịch và phải lấy thêm một người vợ khác, bà xin thời gian để suy nghĩ.
“Tôi nghe mẹ kể lại, bà suy nghĩ đúng một ngày một đêm”, bà Giang kể. “Rồi mẹ tôi nói đấy là nhiệm vụ thì anh cứ đi. Còn con, em nuôi”.
Lúc ấy, bà Giang mới 5 tuổi. Em trai còn nằm trong bụng mẹ. Ông Đức hẹn 2 năm sẽ về. Bà Thanh chỉ nói: “Thôi đừng nói 2 năm, cứ biết là thế”.
Lời hẹn 2 năm sau đó kéo dài thành 21 năm.
Năm 1954, ông Đặng Trần Đức vào Nam, mang tên mới Nguyễn Văn Tá. Ở ngoài Bắc, những năm tháng khó khăn của mẹ con bà Thanh bắt đầu.
Để giữ bí mật tuyệt đối, bà Thanh chỉ nói với các con rằng bố đi làm xa. Ít lâu sau, từ công việc ổn định ở Nhà máy in Tiến Bộ, bà bị điều lên Nông trường chè Vân Lĩnh, Thanh Ba, Phú Thọ. Nếu tiếp tục ở Hà Nội, lý lịch gia đình rất dễ bị dò xét.
Những năm ở nông trường, bà Thanh sống bằng đồng lương ít ỏi để nuôi 2 con.
“Mẹ tôi sức yếu, không làm được việc nặng, người ta cho đi hái chè, làm tương ớt rồi làm căng tin. Lương mỗi tháng chỉ hơn 30 đồng, nuôi 3 mẹ con”, bà Giang kể.
Từ cô bé đang học lớp 1 ở Hà Nội, bà Giang thành đứa trẻ lớn lên giữa đồi chè Phú Thọ. Một buổi đi học, một buổi đi hái chè thuê. Đến tuổi 15-16, bà tranh thủ dạy lớp vỡ lòng để kiếm thêm tiền đỡ đần mẹ.
Nhưng theo bà Giang, cái khổ nhất không phải cái đói, mà là điều tiếng.
Một người đàn bà không có chồng bên cạnh, không thư từ, một mình nuôi 2 con giữa nông trường là cái cớ cho biết bao lời xì xầm. Người ta kháo nhau chồng đi đâu, sao biệt tích, chắc lý lịch có vấn đề.
“Có lần, tôi đi học không được phân đủ sách giáo khoa, tủi quá mới hỏi mẹ có phải bố theo giặc vào Nam nên con mới bị thế không?”, bà nhớ lại.
Khi đó, bà Thanh đáp: “Bố con không phản quốc. Con cứ tin như vậy”.
Niềm tin ấy là thứ duy nhất bà có thể trao cho con trong những năm tháng mịt mùng nhất.
Có thời buổi khó khăn, mảnh vải được phân chỉ đủ may chiếc quần, 2 mẹ con thay nhau khi có việc phải ra ngoài mặc chỉnh tề. Người ta nhìn, xì xào, bà Thanh chỉ cười: “Lương tôi còn nuôi 2 con, mẹ con thay nhau mặc thì có gì phải xấu hổ”.
Suốt ngần ấy năm, bà Giang chưa từng thấy mẹ khóc.
“Mẹ nuốt hết tủi nhục vào trong. Mẹ vẫn bảo mẹ con mình như con thuyền không có lái, lênh đênh tạt đâu thì tạt”, bà Giang kể.
Sự hy sinh của 2 người phụ nữ
Trong khi bà Phạm Thị Thanh âm thầm chịu đựng tủi cực và điều tiếng ở miền Bắc, thì ở miền Nam, bà Ngô Thị Xuân cùng các con cũng lặng lẽ gánh một phần đời không kém nhọc nhằn.
Sự khéo léo của bà Xuân, cùng thân phận “không dính dáng cách mạng”, giúp ông Ba Quốc hoàn thiện lớp vỏ bọc sĩ quan làm việc trong bộ máy tình báo của chính quyền Sài Gòn.
Ban đầu, bà Xuân không biết chồng là ai. Nhưng sống bên nhau, bà dần nhận ra những điều bất thường: những chuyến đi về thất thường, những đêm ông lặng lẽ làm việc, những khoản tiền được giấu rất kỹ rồi lại biến mất.
Bà không hỏi, cũng không tra xét. Bà mở cửa hàng bán đồ khô, tằn tiện nuôi 4 đứa con, giữ mái nhà đủ yên để chồng hoàn thiện vỏ bọc trong lòng địch.
“Mợ Xuân tôi ở trong đó cũng khổ lắm, một mình nuôi các em chứ không sung sướng gì”, bà Giang nói.
Phần lớn lương của ông Ba Quốc được dành cho cơ sở và giao liên, phần còn lại mới gửi về gia đình. Mọi toan tính trong nhà đều dồn lên vai bà Xuân. Bà vừa giữ yên mái nhà, vừa nuôi con, vừa sống trong nỗi lo thường trực về một ngày chồng bị lộ hoặc cả gia đình gặp biến cố.
Năm 1974, khi đường dây tình báo bị lộ, ông Ba Quốc phải rút vào căn cứ. Bà Xuân và các con bị bắt, trải qua nhiều tháng thẩm vấn nhưng không ai khai nửa lời.
Ngày 1/5/1975, trong bữa cơm đoàn tụ đầu tiên, ông Đặng Trần Đức mới kể cho gia đình ngoài Bắc nghe phần đời còn lại của mình: ông đã sống với bà Xuân 21 năm và có với nhau 4 người con.
Cả nhà lặng đi. Nhưng điều bà Giang nhớ nhất không phải cú sốc ấy, mà là cách mẹ mình đón nhận. Không ghen tuông, không oán trách, không một lời hơn thua.
Nhìn từ góc độ một người phụ nữ, bà Giang nói điều khiến bà kính phục nhất ở mẹ là sự nhẫn nại và lòng tự trọng. Suốt hơn 20 năm chồng biền biệt, một mình nuôi 2 con trong thiếu thốn và điều tiếng, bà Phạm Thị Thanh vẫn lặng lẽ chờ đợi, không một lời oán trách, cũng không để mình rơi vào bất kỳ điều tiếng nào.
“Tôi kính nể mẹ mình nhất ở chỗ ấy”, bà Giang nói. “Sau này tôi mới thấy bố mình là người rất lớn, còn mẹ tôi là người phụ nữ quá đỗi phi thường”.
Càng lớn, bà càng hiểu sự hy sinh trong gia đình mình không chỉ thuộc về mẹ đẻ. Nếu bà Thanh ở ngoài Bắc lặng lẽ chịu đựng để giữ bí mật cho chồng, thì bà Xuân ở trong Nam cũng âm thầm gánh vác một phần hy sinh không nhỏ.
Với bà Giang, cả 2 người phụ nữ ấy đều xứng đáng được nhắc đến như những người cùng giữ trọn hậu phương cho một người đi qua chiến tranh.
Năm 1981, bà Xuân ra Bắc thăm gia đình bà Thanh. Cuộc gặp diễn ra lặng lẽ và tự nhiên như giữa 2 người phụ nữ đã hiểu hết phần đời của nhau.
Họ ngồi với nhau đến khuya, hỏi chuyện nuôi con, chuyện đau ốm, chuyện những năm tháng đã đi qua. Không ai hỏi ai thiệt hơn. Không ai nhắc đến ghen tuông.
“Còn sống là mừng rồi”, bà Giang nhớ lời mợ Xuân nói với mẹ mình.
Sau này, các con trong Nam gọi bà Thanh là “mẹ Thanh”. Chị em ngoài Bắc gọi bà Xuân là “mợ Xuân” theo cách gọi miền Nam.
“Gia tài lớn nhất cha mẹ và mợ tôi để lại là các con biết thương nhau”, bà Giang nói. “Chúng tôi chưa từng tranh chấp hay phân biệt mẹ này mẹ kia”.
Năm 1982, bà Thanh bị tai nạn gãy cột sống, liệt 2 chân. Ông Đức từ miền Nam trở ra, chăm sóc vợ từng bữa ăn giấc ngủ, nấu cháo, dìu tập đi.
Ông nói với vợ: “Ngày xưa bà gánh tôi qua chiến tranh, giờ đến lượt tôi gánh bà qua tuổi già”.
Ngày bà Thanh mất, ông khóc rất nhiều. Người đàn ông từng đi qua những năm tháng hiểm nguy nhất, cuối cùng lại khóc như một người chồng bình thường.
Ông Ba Quốc sống thêm vài năm, qua đời năm 2004. Bà Xuân mất 2 năm sau đó.
Giờ đây, vào những ngày giỗ chạp, con cháu 2 miền vẫn trở về đông đủ. Người gọi “mẹ Thanh”, người gọi “mợ Xuân” vẫn ngồi chung mâm cơm.
Thiếu tướng Đặng Trần Đức (1922-2004), mật danh Ba Quốc, là một trong những điệp viên nổi tiếng nhất của tình báo Việt Nam. Hơn 20 năm hoạt động đơn tuyến trong lòng chính quyền Sài Gòn, ông tham gia nhiều chiến dịch tình báo chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng và được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978.
Cuộc đời ông Ba Quốc gắn liền 3 cuộc chiến lớn: Chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Ông đã thực hiện nhiều điệp vụ siêu hạng góp phần quyết định vào thắng lợi của cách mạng, giảm thiểu tổn thất sinh mạng trong chiến tranh.
Hà Nội đặt tên một con đường mang tên Đặng Trần Đức ở phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai (cũ), cách không xa nhà lưu niệm vị tướng tình báo này.