close Đăng nhập

Chuyên gia RMIT nói về đề xuất hạn chế trẻ dưới 16 tuổi tương tác trên MXH

Nhìn nhận việc hạn chế trẻ dưới 16 tuổi tương tác trên MXH có thể giúp giảm rủi ro trực tuyến, các chuyên gia cho rằng để chính sách hiệu quả cần kết hợp giải pháp kỹ thuật, giáo dục và vai trò của gia đình.

Giảm gây nghiện nhưng có nguy cơ phát sinh hệ quả ngoài mong muốn

Đề xuất không cho phép trẻ dưới 16 tuổi đăng tải, bình luận, chia sẻ hoặc bày tỏ cảm xúc trên mạng xã hội nêu trong dự thảo sửa đổi Nghị định 147/2024/NĐ-CP đang thu hút nhiều ý kiến góp ý. Theo TS Gordon Ingram, giảng viên cấp cao ngành Tâm lý học tại Đại học RMIT Việt Nam, việc giới hạn tương tác là một giải pháp trung gian giữa cấm hoàn toàn trẻ em sử dụng mạng xã hội và cho phép các em sử dụng không hạn chế.

Ông cho rằng biện pháp này có thể giúp bảo vệ những người trẻ dễ bị tổn thương khỏi nguy cơ bị lợi dụng trên môi trường số. Khi trẻ không để lại nhiều dấu vết hoạt động trực tuyến, các em sẽ ít trở thành mục tiêu của những kẻ săn mồi trên mạng, từ dụ dỗ tình dục, lừa đảo tài chính đến cực đoan hóa.

ts-gordon-ingram-rmit-8160.jpg
Theo TS Gordon Ingram, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần cân bằng giữa an toàn và nhu cầu kết nối, phát triển của trẻ. Ảnh: NVCC.

Theo giảng viên cấp cao của Đại học RMIT Việt Nam, việc sử dụng mạng xã hội theo cách thụ động cũng có thể làm giảm mức độ gây nghiện do hạn chế những cảm giác hưng phấn từ lượt thích hay bình luận. Tuy nhiên, chính sách này cũng có thể tạo ra những tác động không mong muốn.

Ông cho rằng việc chỉ xem nội dung mà không được tương tác có thể khiến một số trẻ giảm kết nối xã hội, cảm thấy buồn hoặc thất vọng vì không được tin tưởng sử dụng mạng xã hội đầy đủ.

Đáng chú ý, ông Gordon Ingram nhận định việc sử dụng mạng xã hội theo kiểu thụ động hay doomscrolling có thể còn bất lợi hơn sử dụng chủ động. Trong khi việc tương tác tích cực giúp hình thành các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa, việc chỉ liên tục xem nội dung giống như xem truyền hình và chuyển kênh liên tục, tiêu tốn nhiều thời gian nhưng mang lại ít giá trị.

Một nguy cơ khác là trẻ có thể tìm cách lách quy định bằng cách tạo tài khoản người lớn hoặc chuyển sang các nền tảng thay thế và các nhóm kín, nơi cha mẹ khó giám sát hơn. Khi đó, những cơ chế bảo vệ dành riêng cho trẻ em như thiết lập quyền riêng tư nghiêm ngặt hoặc hạn chế liên hệ từ người lạ cũng có thể không còn được áp dụng.

Từ kinh nghiệm triển khai lệnh cấm mạng xã hội tại Australia, TS Gordon Ingram cho rằng một vấn đề thường bị bỏ quên là tiếng nói của chính người trẻ.

Theo ông, trong quá trình hoàn thiện chính sách, cần bảo đảm trẻ em và thanh thiếu niên, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, được tham gia một cách có ý nghĩa vào các cuộc tham vấn đối với những quy định sẽ tác động trực tiếp đến đời sống số của các em.

Trẻ có lách luật khi quy định quá chặt?

Ở góc độ kỹ thuật, TS Huo Chong Ling, chuyên gia cấp cao ngành kỹ thuật phần mềm, cho rằng việc người dùng tìm cách lách quy định là thách thức phổ biến trong lĩnh vực an ninh mạng. Nếu các quy định quá hạn chế và khó tuân thủ, người dùng sẽ tìm cách vượt qua các rào cản. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là từ bỏ các quy định bảo vệ trẻ em.

Theo TS Ling, việc chỉ cấm trẻ đăng bài hoặc bình luận sẽ không đủ để giải quyết các nguy cơ trên môi trường mạng.

ts-huo-chong-ling-rmit-3628.jpg
Theo TS Huo Chong Ling, việc chỉ hạn chế trẻ tương tác trên mạng xã hội sẽ không đủ để giảm các rủi ro trực tuyến. Ảnh: NVCC.

Ông Huo Chong Ling cho rằng không phải mọi tương tác trực tuyến đều có hại. Một học sinh chia sẻ tác phẩm nghệ thuật với bạn học hoàn toàn khác với việc tương tác với người lạ trong các nhóm công khai. Vì vậy, điều quan trọng hơn là trẻ tương tác với ai và tiếp xúc với loại nội dung nào.

Những rủi ro như bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, người lạ tiếp cận hay thuật toán liên tục đề xuất nội dung độc hại mới là các mối nguy nghiêm trọng hơn việc trẻ để lại một bình luận.

Theo chuyên gia, các nền tảng cần kết hợp nhiều lớp bảo vệ như tài khoản riêng tư mặc định, chặn tin nhắn từ người lạ, kiểm soát quyền bình luận, ứng dụng AI để phát hiện hành vi bắt nạt hoặc dụ dỗ trực tuyến, công cụ giám sát của phụ huynh và tính năng nhắc nghỉ giải lao.

"Không nên ngăn trẻ em tương tác hoàn toàn mà mục tiêu là giúp các em có trải nghiệm trực tuyến an toàn hơn, đồng thời vẫn được tiếp cận thông tin và nội dung giáo dục có ích", TS Huo Chong Ling nêu quan điểm và cho rằng cơ quan quản lý cần đặt ra các tiêu chuẩn rõ ràng về an toàn trẻ em, còn các nền tảng phải tích hợp cơ chế bảo vệ ngay trong thiết kế sản phẩm. Sự kết hợp giữa chính sách và công nghệ sẽ tạo hiệu quả bảo vệ cao hơn.

"Không thể chỉ dựa vào lệnh cấm"

Ở góc độ truyền thông số, TS Nguyễn Thị Thắm, giảng viên ngành truyền thông chuyên nghiệp của Đại học RMIT Việt Nam, cho rằng việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ dựa vào các lệnh cấm hay giới hạn thời gian sử dụng.

Bà Thắm cho rằng không có một độ tuổi tuyệt đối an toàn để trẻ bắt đầu sử dụng mạng xã hội. Điều quan trọng không chỉ là đủ tuổi theo quy định của nền tảng mà còn là sự trưởng thành về tâm lý, khả năng tự kiểm soát, hiểu biết về truyền thông số và sự đồng hành của gia đình.

678137e34dff0fa3e6de21e4.jpg
Mạng xã hội không chỉ là kênh để trẻ kết nối với bạn bè, giải trí và giảm căng thẳng sau giờ học mà còn phục vụ học tập và tiếp cận thông tin. Ảnh: Bộ GD&ĐT.

Trước khi tiếp cận mạng xã hội, trẻ cần biết điều tiết cảm xúc, hiểu rằng nội dung trên mạng thường đã được chọn lọc và chịu tác động của thuật toán, đồng thời có kỹ năng bảo vệ quyền riêng tư và tìm kiếm sự hỗ trợ từ người lớn khi cần thiết.

Theo TS Thắm, để giảm sự lệ thuộc vào mạng xã hội, gia đình cần tạo cho trẻ một đời sống ngoài đời thực phong phú thông qua các hoạt động thể thao, đọc sách, hoạt động ngoài trời và giao tiếp trực tiếp. Cha mẹ cũng cần trở thành hình mẫu trong việc sử dụng công nghệ có chừng mực.

Trong khi đó, nhà trường cần tăng cường giáo dục năng lực thông hiểu truyền thông, kỹ năng cân bằng số và tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa. Các trường học cũng nên ưu tiên sử dụng các nền tảng học tập chuyên biệt thay vì phụ thuộc vào các mạng xã hội phổ thông trong dạy học và liên lạc.

"Các chính sách cần tăng cường bảo vệ dữ liệu trẻ em và hạn chế những thiết kế nền tảng có thể khuyến khích việc sử dụng quá mức. Các nền tảng cũng cần tích hợp cơ chế an toàn ngay từ khâu thiết kế nhằm giảm rủi ro và nội dung độc hại từ gốc.

Xét cho cùng, bảo vệ trẻ em trên mạng không phải trách nhiệm của riêng gia đình hay nhà trường, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội", TS Thắm nói thêm.

Có hiệu lực từ ngày 25/12/2024, Nghị định 147/2024/NĐ-CP về về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng quy định trẻ dưới 16 tuổi chỉ được sử dụng tài khoản mạng xã hội khi cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp đăng ký bằng thông tin của mình và chịu trách nhiệm giám sát, quản lý hoạt động của trẻ trên nền tảng.

Dự thảo sửa đổi Nghị định 147 đang được lấy ý kiến tiếp tục bổ sung biện pháp bảo vệ, yêu cầu các mạng xã hội có giải pháp kỹ thuật để bảo đảm người dùng dưới 16 tuổi không được đăng tải, bình luận, chia sẻ hoặc bày tỏ cảm xúc trên nền tảng.

Chuyển đổi số

Lạng Sơn thí điểm Trạm dịch vụ công số ứng dụng AI

Lạng Sơn thí điểm Trạm dịch vụ công số ứng dụng AI

Không còn phải xếp hàng tại bộ phận một cửa, người dân tại nhiều xã, phường ở Lạng Sơn có thể tự thực hiện nhiều thủ tục hành chính thông qua Trạm dịch vụ công số ứng dụng AI, tích hợp VNeID và thanh toán không dùng tiền mặt.

TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách Chiến lược Trung ương.

Dữ liệu phải là hạ tầng chiến lược của khu công nghiệp

TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng khu công nghiệp thế hệ mới cần được quản trị trên nền tảng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức quản trị minh bạch, thông minh, hiệu quả, coi dữ liệu là hạ tầng chiến lược.

TS Babak Sabi, Cố vấn Kỹ thuật, nguyên Phó Chủ tịch Amazon và Phó Chủ tịch Cấp cao Intel đánh giá Việt Nam là quốc gia có lợi thế về nguồn nhân lực, nền tảng công nghệ và cơ hội thu hút các công nghệ sản xuất tiên tiến. Ảnh XM.

Đà Nẵng làm gì để trở thành trung tâm AI của khu vực

"Đà Nẵng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trong nghiên cứu, đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao", Phó Chủ tịch TP Đà Nẵng nói.