close Đăng nhập

TS David Nghiêm: Tổng bí thư đã chạm đúng “điểm nghẽn của điểm nghẽn” phát triển KHCN

Phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm tại Đại hội XIV đã chạm đúng “điểm nghẽn” căn bản của khoa học - công nghệ Việt Nam đó là con người và cơ chế. 

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Đó là chia sẻ của TS David Nghiêm, nguyên Phó hiệu trưởng Cullen College (Mỹ), Giám đốc Trung tâm Viễn thông Đại học Houston, Giám đốc TMA (Talented Minds Agency – Mỹ) Việt Nam trong cuộc trò chuyện cùng VietTimes. Ông cũng phân tích những rào cản thể chế đang kìm hãm sáng tạo và gợi mở các cải cách có thể tạo đột phá thực chất để đất nước phát triển trong thời gian tới.

1768887262738.jpg
Tổng bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Bắt đầu từ con người và thể chế

- Thưa ông, trong Báo cáo trình Đại hội Đảng XIV, Tổng bí thư Tô Lâm khẳng định: “Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế”. Ông có bình luận gì về nhận định đó?

- Theo tôi, phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm chạm đúng vào “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn” trong phát triển khoa học - công nghệ, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia đang chuyển đổi. Đó là xu hướng tập trung quá nhiều vào mục tiêu, chương trình, ngân sách hay trang thiết bị, trong khi xem nhẹ hai yếu tố mang tính quyết định: con người có được trao quyền hay không, và cơ chế có cho phép sáng tạo vận hành đúng logic của nó hay không.

Trong hệ sinh thái khoa học - công nghệ tại Hoa Kỳ, điều dễ nhận thấy là công nghệ không được sinh ra từ mệnh lệnh hành chính hay ý chí chính trị đơn thuần. Nó được hình thành từ môi trường mà ở đó, con người được tin tưởng, được tự chủ học thuật, được quyền thất bại và được đánh giá bằng giá trị cuối cùng họ tạo ra. Cơ chế ở đây không nhằm kiểm soát từng bước đi, mà tạo “khung an toàn” để sáng tạo diễn ra với tốc độ nhanh nhất.

Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chia. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; cơ chế tài chính linh hoạt; cơ chế hợp tác công tư; cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KHCN gắn với yêu cầu phát triển

Tổng bí thư Tô Lâm Phát biểu tại Đại hội Đảng XIV

Trong khi đó, ở nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cơ chế quản lý khoa học vẫn nặng về tư duy hành chính: quản lý bằng quy trình, bằng hồ sơ, bằng sự an toàn cá nhân của người ký quyết định. Điều này dẫn tới nghịch lý là nhà khoa học giỏi lại phải dành rất nhiều thời gian để “giải trình”, “báo cáo”, thay vì tập trung giải quyết bài toán khoa học hay công nghệ.

Khi Tổng bí thư nhấn mạnh “không thể chủ quan, duy ý chí”, tôi cho rằng đây là một cảnh báo rất quan trọng. Khoa học - công nghệ không phát triển theo mệnh lệnh, mà theo quy luật cạnh tranh, đào thải và tích lũy tri thức. Nếu cơ chế không thay đổi, nếu con người vẫn bị trói buộc bởi những rào cản cũ, thì dù có đầu tư nhiều tiền hơn, kết quả vẫn rất hạn chế.

Nói cách khác, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở năng lực con người Việt Nam, mà nằm ở việc chúng ta chưa giải phóng được năng lực đó bằng một hệ cơ chế phù hợp với logic của khoa học và thị trường công nghệ hiện đại.

- Một trong những yêu cầu được nhấn mạnh là cơ chế trọng dụng nhân tài. Theo ông, điều quan trọng hơn là thu hút người giỏi hay là tạo môi trường để họ phát huy hết năng lực, và đâu là khác biệt căn bản giữa hai cách tiếp cận này?

- Theo kinh nghiệm của tôi, thu hút người giỏi chỉ là bước đầu, còn tạo môi trường để họ phát huy hết năng lực mới là yếu tố quyết định thành bại. Nhiều quốc gia, nhiều tổ chức rất tự hào vì mời được chuyên gia giỏi, giáo sư đầu ngành hay nhà khoa học danh tiếng, nhưng sau một thời gian, những người đó hoặc rơi vào trạng thái “đứng ngoài cuộc”, hoặc lặng lẽ rời đi. Nguyên nhân không phải vì họ thiếu năng lực, mà vì môi trường không cho phép họ làm việc đúng nghĩa.

david-nghiem-01-2151-665.jpg
TS David Nghiêm cho rằng trọng dụng nhân tài không phải là ưu ái cá nhân, mà là thiết kế một hệ thống trong đó người giỏi có “đất dụng võ”, còn người không tạo ra giá trị sẽ tự nhiên bị đào thải.

Sự khác biệt căn bản giữa hai cách tiếp cận nằm ở triết lý quản trị. Thu hút nhân tài thường gắn với đãi ngộ, chức danh, điều kiện vật chất. Trong khi đó, tạo môi trường phát huy năng lực đòi hỏi thay đổi sâu về cơ chế: trao quyền tự chủ, chấp nhận sự khác biệt, cho phép tranh luận học thuật và đánh giá công bằng dựa trên kết quả.

Ở các đại học và trung tâm nghiên cứu tại Mỹ, nhân tài được kỳ vọng rất rõ ràng: anh được trao quyền, nhưng cũng phải chịu trách nhiệm. Không ai can thiệp vào hướng nghiên cứu của anh nếu nó có cơ sở khoa học, nhưng kết quả cuối cùng sẽ được cộng đồng học thuật, thị trường hoặc xã hội đánh giá rất nghiêm khắc. Chính sự minh bạch đó tạo ra động lực sáng tạo bền vững.

Ngược lại, nếu cơ chế vẫn mang tính “xin - cho”, nếu người giỏi phải chờ phê duyệt cho từng quyết định chuyên môn, thì dù có mời được họ, hiệu quả cũng rất thấp. Trọng dụng nhân tài không phải là ưu ái cá nhân, mà là thiết kế một hệ thống trong đó người giỏi có “đất dụng võ”, còn người không tạo ra giá trị sẽ tự nhiên bị đào thải.

Vì vậy, tôi cho rằng thông điệp của Tổng bí thư về trọng dụng nhân tài cần được hiểu theo nghĩa sâu hơn: không chỉ mời gọi, mà phải thay đổi môi trường để nhân tài muốn ở lại và cống hiến lâu dài.

Cần thay đổi tư duy từ “quản lý để kiểm soát” sang “quản lý để tạo điều kiện”

- Tổng bí thư Tô Lâm cũng đề cập đến đánh giá dựa trên sản phẩm, thay vì dựa vào quy trình hay hồ sơ. Ở các đại học và trung tâm nghiên cứu tại Mỹ, nguyên tắc này được thực thi cụ thể ra sao, và Việt Nam cần thay đổi tư duy quản lý khoa học như thế nào để áp dụng được?

- Đánh giá dựa trên sản phẩm là nguyên tắc cốt lõi trong hệ thống khoa học - công nghệ tại Mỹ. Ở đây, không ai hỏi bạn đã viết bao nhiêu báo cáo hành chính hay tuân thủ quy trình ra sao, mà câu hỏi quan trọng nhất là: anh tạo ra giá trị gì mới cho tri thức, cho công nghệ, cho xã hội hoặc cho thị trường.

Trong môi trường đại học, sản phẩm có thể là công bố khoa học chất lượng cao, bằng sáng chế, công nghệ chuyển giao, startup công nghệ, hoặc tác động chính sách. Ở các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, sản phẩm còn được đo bằng khả năng thương mại hóa, khả năng giải quyết bài toán cụ thể của doanh nghiệp hay chính phủ. Quy trình tồn tại, nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không phải mục tiêu.

Để làm được điều này, hệ thống quản lý khoa học buộc phải chấp nhận hai điều: thứ nhất là không phải nghiên cứu nào cũng thành công; thứ hai là giá trị không phải lúc nào cũng đo được ngay lập tức. Điều quan trọng là đánh giá đúng hướng đi, chất lượng tư duy và tiềm năng tác động, thay vì chỉ nhìn vào hình thức hoàn thành.

Ở Việt Nam, để áp dụng nguyên tắc này, cần thay đổi tư duy từ “quản lý để kiểm soát” sang “quản lý để tạo điều kiện”. Cơ quan quản lý không nên đóng vai người phán xét chi tiết chuyên môn, mà nên là người thiết kế khung đánh giá minh bạch, dựa trên chuẩn mực quốc tế và nhu cầu phát triển thực tế.

Khi sản phẩm trở thành thước đo trung tâm, nhà khoa học sẽ tự điều chỉnh hành vi, tự nâng chuẩn của mình. Ngược lại, nếu vẫn đánh giá bằng hồ sơ, thủ tục, thì rất khó tạo ra đột phá thực chất.

strategic-marketing-plan-infographic-presentation-9.jpg
TS David Nghiêm cho rằng rào cản lớn nhất về tài chính cho khoa học - công nghệ không nằm ở việc thiếu tiền, mà nằm ở cách quản lý tiền. Ảnh minh họa

- Về cơ chế tài chính linh hoạt cho khoa học - công nghệ, theo ông, đâu là những rào cản mang tính hệ thống khiến nhà khoa học khó sáng tạo? Làm thế nào để vừa trao quyền chủ động cho nghiên cứu, vừa đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình?

- Rào cản lớn nhất về tài chính cho khoa học - công nghệ không nằm ở việc thiếu tiền, mà nằm ở cách quản lý tiền. Khi tài chính nghiên cứu bị quản lý như chi tiêu hành chính thông thường, sáng tạo gần như bị bóp nghẹt. Nhà khoa học không thể linh hoạt điều chỉnh hướng nghiên cứu, không thể phản ứng nhanh với phát hiện mới, vì mọi thay đổi đều phải xin phép, giải trình trước.

“Nói cách khác, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở năng lực con người Việt Nam, mà nằm ở việc chúng ta chưa giải phóng được năng lực đó bằng một hệ cơ chế phù hợp với logic của khoa học và thị trường công nghệ hiện đại”.

TS David Nghiêm

Ở Mỹ, cơ chế tài chính cho nghiên cứu dựa trên nguyên tắc: trao quyền rộng, nhưng kiểm soát bằng kết quả. Nhà nghiên cứu được toàn quyền phân bổ ngân sách trong phạm vi dự án, nhưng phải chịu trách nhiệm rất rõ ràng về sản phẩm cuối cùng. Nếu không đạt kết quả, uy tín khoa học của họ sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo hệ quả lâu dài.

Minh bạch không đến từ việc kiểm soát từng hóa đơn nhỏ, mà đến từ hệ thống đánh giá độc lập, công khai và cạnh tranh. Các dự án được thẩm định bởi hội đồng chuyên gia, kết quả được công bố, và cộng đồng khoa học có quyền phản biện.

Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo hướng này nếu mạnh dạn thay đổi tư duy quản lý: giảm kiểm soát đầu vào, tăng trách nhiệm đầu ra; giảm vai trò của thủ tục hành chính, tăng vai trò của đánh giá chuyên môn độc lập. Khi đó, tài chính sẽ trở thành công cụ thúc đẩy sáng tạo, chứ không phải rào cản.

3.jpg
"Hợp tác công - tư, nếu được thiết kế đúng, sẽ là cầu nối giữa tri thức và thị trường", TS David Nghiêm nói. Ảnh minh họa/Viettel

Chuyển đổi số gắn với quản trị nhà nước là bài toán nền tảng

- Phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vai trò của hợp tác công - tư. Từ kinh nghiệm quốc tế, ông đánh giá thế nào về mô hình nhà nước “đặt bài toán”, doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết, thay vì mỗi bên đi theo một hướng riêng?

- Mô hình nhà nước “đặt bài toán” và doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết là nền tảng của nhiều đột phá công nghệ lớn trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, rất nhiều công nghệ mũi nhọn, từ internet, GPS đến trí tuệ nhân tạo, đều bắt đầu từ những bài toán do nhà nước đặt ra, sau đó được khu vực tư nhân phát triển và thương mại hóa.

Điểm quan trọng là nhà nước không can thiệp vào cách doanh nghiệp giải bài toán, mà chỉ xác định rõ mục tiêu chiến lược. Doanh nghiệp, với sự linh hoạt và động lực thị trường, sẽ tìm ra lời giải hiệu quả nhất. Cách làm này giúp tránh lãng phí nguồn lực và tạo ra hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu thực.

Ở Việt Nam, nếu khu vực công và tư vẫn đi song song, thiếu kết nối, thì khoa học sẽ khó đi vào đời sống, còn doanh nghiệp sẽ thiếu nền tảng công nghệ cốt lõi. Hợp tác công - tư, nếu được thiết kế đúng, sẽ là cầu nối giữa tri thức và thị trường.

- Nếu coi yêu cầu “đặt hàng nhiệm vụ khoa học - công nghệ gắn với phát triển” là khâu đột phá, theo ông, Việt Nam nên ưu tiên những “bài toán lớn” nào trong 5 - 10 năm tới để tạo cú hích cho toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo?

- Nếu coi “đặt hàng nhiệm vụ khoa học - công nghệ gắn với phát triển” là khâu đột phá, tôi cho rằng Việt Nam cần lựa chọn rất thận trọng một số bài toán lớn có tính lan tỏa cao, đủ sức kéo theo cả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thay vì dàn trải nguồn lực vào quá nhiều mục tiêu nhỏ lẻ.

Đặt hàng ở đây không chỉ là giao đề tài, mà là xác định rõ những vấn đề sống còn của quốc gia trong 5-10 năm tới, từ đó huy động trí tuệ của viện, trường, doanh nghiệp và cả khu vực tư nhân cùng tham gia giải quyết.

Trước hết, chuyển đổi số toàn diện gắn với quản trị nhà nước cần được coi là bài toán nền tảng. Không có một nhà nước số, không có dữ liệu mở, liên thông và được quản trị minh bạch, thì mọi nỗ lực phát triển công nghệ ở các lĩnh vực khác đều sẽ bị giới hạn.

Đây không chỉ là câu chuyện về phần mềm hay hạ tầng số, mà là đổi mới phương thức quản trị, ra quyết định dựa trên dữ liệu và công nghệ, từ đó tạo ra thị trường lớn cho các doanh nghiệp công nghệ trong nước phát triển.

Thứ hai, Việt Nam cần ưu tiên các công nghệ lõi quyết định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư dài hạn, đặt hàng có tầm nhìn chiến lược và sự kiên trì về chính sách.

Nhà nước không nhất thiết phải làm thay doanh nghiệp, nhưng cần đóng vai trò “người đặt bài toán lớn”, từ đào tạo nhân lực, nghiên cứu nền tảng đến ứng dụng trong các lĩnh vực cụ thể như quốc phòng, y tế, giao thông hay tài chính.

Thứ ba là công nghệ xanh, năng lượng tái tạo và nông nghiệp công nghệ cao, những lĩnh vực gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển bền vững và an ninh dài hạn của đất nước. Việt Nam có lợi thế tự nhiên và thị trường đủ lớn để biến các bài toán về năng lượng sạch, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu thành động lực đổi mới sáng tạo, nếu biết đặt hàng đúng và nhất quán.

Quan trọng hơn cả là cách đặt hàng. Bài toán phải đủ lớn, mục tiêu phải đo lường được, sản phẩm phải rõ ràng và trách nhiệm phải gắn với kết quả cuối cùng. Khi nhà nước đặt ra đúng bài toán và tạo được cơ chế minh bạch, cạnh tranh, khoa học - công nghệ sẽ tự tìm ra con đường phát triển hiệu quả, thay vì bị dẫn dắt bởi mệnh lệnh hành chính hay tư duy ngắn hạn.

- Trân trọng cám ơn ông!

Xã hội số

Các đại biểu dự phiên thảo luận ở hội trường về các văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Quy trình bắt buộc khi bầu Ban Bí thư

Trước khi bế mạc Đại hội Đảng XIV, Ban Chấp hành Trung ương khóa mới sẽ tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để bầu Ban bí thư theo 8 bước được quy định tại Quyết định 190-QĐ/TW.

Tinh gọn bộ máy là chìa khóa đưa đất nước vươn mình

Tinh gọn bộ máy là chìa khóa đưa đất nước vươn mình

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đặc biệt trong giai đoạn “nước rút” từ tháng 7/2025 đến nay, đã khẳng định đây là chủ trương rất đúng, rất trúng, có ý nghĩa lịch sử, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình ủng hộ.

Thu hồi, tiêu hủy hàng loạt mỹ phẩm vi phạm

Thu hồi, tiêu hủy hàng loạt mỹ phẩm vi phạm

Cục Quản lý Dược liên tiếp xử phạt, đình chỉ lưu hành nhiều sản phẩm mỹ phẩm do sai công thức, thiếu hồ sơ pháp lý hoặc chứa chất không công bố, cho thấy thị trường mỹ phẩm vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ với sức khỏe người tiêu dùng.

Bắc Bộ rét đậm, có nơi dưới 6 độ C

Bắc Bộ rét đậm, có nơi dưới 6 độ C

Dự báo đêm 20/1, không khí lạnh tràn xuống miền Bắc, trời chuyển rét. Từ ngày 21 đến 23/1, Bắc Bộ rét đậm, vùng núi có nơi rét hại. Nhiệt độ thấp nhất ở Bắc Bộ 11-14 độ C, vùng núi cao có nơi dưới 6 độ C.