Trao đổi với VietTimes nhân ngày Chuyển đổi số Quốc gia 10/10, TS Phạm Văn Khánh, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu và Đào tạo Digix, Nghiên cứu viên Viện Công nghệ thông tin - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã tạo dựng nền móng cho quốc gia số với những bước tiến về thể chế, hạ tầng và phát triển kinh tế số sau gần 2 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW.
Tuy nhiên, nền móng ấy chưa chuyển hóa thành sức bật tăng trưởng tương xứng. Nếu duy trì nhịp tăng trưởng giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng kinh tế số năm 2030 chỉ đạt khoảng 15,6% GDP, bằng một nửa mục tiêu tối thiểu 30%. Theo TS Phạm Văn Khánh, để thu hẹp khoảng cách này, Việt Nam cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu, giải ngân và năng lực thực thi.
Đã có nền móng, thiếu sức bật tăng trưởng
- Nhìn lại gần 2 năm qua, đặc biệt từ khi triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, ông nhìn nhận đâu là những kết quả nổi bật nhất của chuyển đổi số Việt Nam? Đâu là sự phản ánh rõ nhất sự chuyển biến về chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và mức độ thụ hưởng của người dân, doanh nghiệp?
- Nếu phải tóm tắt trong một câu, tôi cho rằng sau gần 2 năm, Việt Nam đã đổ xong phần lớn “móng” của quốc gia số, nhưng “ngôi nhà” mới bắt đầu có người ở.
Kết quả nổi bật nhất là thể chế đã đi trước một bước. Năm 2025, Quốc hội thông qua chuỗi 10 đạo luật về khoa học, công nghệ, trong đó có Luật Trí tuệ nhân tạo và Luật Chuyển đổi số; lần đầu tiên mức chi tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số được luật hóa.
Hạ tầng số phủ rộng: đến tháng 9/2026, mạng 5G phủ 91,9% dân số, cáp quang đến 100% xã, phường, cả nước có 81.600 doanh nghiệp công nghệ số. Từ ngày 20/7/2026, tài khoản định danh điện tử trở thành “chìa khóa” thống nhất để đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Kinh tế số tăng đều: theo Cục Thống kê, tỷ trọng trong GDP tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD.
Tuy vậy, các ngành số “lõi” vẫn chiếm hơn 60% giá trị, phần lan tỏa sang các ngành kinh tế khác chỉ gần 40%. Vị thế quốc tế được cải thiện: Việt Nam xếp thứ 43/139 về đổi mới sáng tạo (WIPO, 2026) và thứ 71/193 về chính phủ điện tử (Liên Hợp Quốc, 2024).
Còn thước đo tôi coi là trung thực nhất về mức thụ hưởng là: người dân còn phải khai lại những gì Nhà nước đã có hay không. Hà Nội đã tái cấu trúc hơn 2.000 thủ tục, nâng tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu lên trên 97% và ước tiết kiệm khoảng 1.600 tỷ đồng trong năm 2025. Nhưng báo cáo sơ kết 18 tháng cho thấy ở khối bộ, ngành, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến mới đạt 34,24%, số hóa 19,23% và tái sử dụng dữ liệu chỉ 5,29% - tức là “giao diện số nhưng xử lý thủ công”.
Đó cũng là lý do Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá kết quả thực tế chưa tương xứng, chưa đóng góp rõ nét vào tăng trưởng và năng suất.
- Những vướng mắc về thể chế, cơ chế tài chính, dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện ông vừa nêu đang tác động như thế nào đến tiến độ và hiệu quả chuyển đổi số?
- Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn là thiếu chủ trương hay thiếu luật, mà là thiếu năng lực “chuyển hóa”: chuyển tiền thành sản phẩm, chuyển dữ liệu thành dịch vụ, chuyển hệ thống thành năng suất.
Giá trị của chuyển đổi số giống một phép nhân giữa thể chế, tài chính, dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và năng lực thực thi: chỉ một thừa số yếu là cả tích số giảm mạnh - đúng như “lý thuyết O-ring” trong kinh tế học phát triển.
Cụ thể, về thể chế và tài chính, khung luật đã đủ, nhưng quy định dự toán, mua sắm vẫn mang tư duy dự án xây dựng, chưa hợp với sản phẩm số. Năm 2026, nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vượt 103.441 tỷ đồng, nhưng đến hết tháng 5 mới giải ngân khoảng 14,78%, so với bình quân chung 21,2%; đến đầu tháng 9, Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn thuộc nhóm giải ngân dưới 6%.
Về dữ liệu, khoảng 125 cơ sở dữ liệu đã và đang được xây dựng, nhưng dữ liệu chưa thực sự “chảy” giữa các hệ thống.
Về hạ tầng, vẫn còn vùng lõm sóng; thiếu hạ tầng tính toán hiệu năng cao cho AI.
Về nhân lực và kỹ năng số, đơn cử như ở Lào Cai chỉ 16/99 xã, phường có cán bộ đạt chuẩn công nghệ thông tin; nhiều người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điện thoại thông minh nhưng chưa biết dùng dịch vụ số; theo UNDP, 65% người khuyết tật dùng thiết bị trợ năng chưa từng được đào tạo kỹ năng số.
Về tổ chức thực hiện, hệ thống đầu tư riêng lẻ, trùng lặp; đánh giá thiên về đếm đầu việc hơn là đo giá trị tạo ra.
Những điểm nghẽn này làm chậm tiến độ, đội chi phí và quan trọng nhất là khiến kinh tế số chưa lan tỏa được vào năng suất.
Tôi đã thử một phép tính trên số liệu chính thức: nếu giữ nhịp tăng như giai đoạn 2021-2025, năm 2030 kinh tế số chỉ đạt khoảng 15,6% GDP; muốn đạt mục tiêu tối thiểu 30% của Nghị quyết 57, tỷ trọng phải tăng khoảng 16,4%/năm, nhanh gấp khoảng 7,6 lần nhịp hiện tại.
Mục tiêu chỉ khả thi khi tháo được điểm nghẽn, không thể đạt bằng quán tính.
Cơ chế “một việc - một chủ - một sản phẩm - một thời hạn”
- Ông vừa nhắc đến tồn tại hiện nay là “dữ liệu chưa thực sự ‘chảy’ giữa các hệ thống”, còn phân tán, thiếu liên thông, chưa thể kết nối đồng bộ. Theo ông, cần giải quyết những vấn đề gì về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm của các cơ quan quản lý để hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, phục vụ hiệu quả người dân và doanh nghiệp?
- Dữ liệu phân tán không phải là vấn đề kỹ thuật thuần túy. Một hệ sinh thái dữ liệu vận hành được cần ba thứ: một “ngôn ngữ chung”, một “đường truyền chung” và một “chủ thể chịu trách nhiệm” cho từng tập dữ liệu. Kinh nghiệm của Hà Nội cho thấy khác biệt không nằm ở công nghệ, mà ở chuẩn, quy trình và trách nhiệm.
Tôi cho rằng có 4 việc cần làm ngay:
Thứ nhất, về tiêu chuẩn, quy chuẩn: ban hành từ điển dữ liệu, mã định danh dùng chung và chuẩn API thành quy chuẩn bắt buộc, liên thông theo bốn lớp pháp lý - tổ chức - ngữ nghĩa - kỹ thuật như Khung liên thông châu Âu; hệ thống không đạt chuẩn kết nối thì không nghiệm thu.
Thứ hai, về chia sẻ dữ liệu: “chia sẻ là mặc định, từ chối phải giải trình”; thực thi triệt để nguyên tắc “chỉ khai báo một lần”; mọi kết nối đi qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia.
Thứ ba, về trách nhiệm: mỗi tập dữ liệu có một cơ quan chủ quản - Bộ Công an với dữ liệu dân cư và hạ tầng dữ liệu quốc gia; Bộ Khoa học và Công nghệ với kiến trúc và đo lường; Bộ Tư pháp với giá trị pháp lý của giấy tờ điện tử; Văn phòng Chính phủ với tái cấu trúc thủ tục; các bộ, ngành, địa phương với dữ liệu chuyên ngành.
Thứ tư, cần công khai: công bố hằng tháng “chỉ số sẵn sàng dữ liệu” của từng bộ, ngành, địa phương, để áp lực cải thiện đến từ chính người dân, doanh nghiệp.
Dữ liệu chỉ trở thành tài sản khi được dùng lại.
- Trong chiến dịch 100 ngày đêm tháo gỡ điểm nghẽn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo ông, đâu là những ưu tiên cấp bách và cơ chế nào để tạo chuyển biến thực chất?
- 100 ngày không đủ để làm mọi việc, nhưng đủ để làm đúng những việc “mở khóa” các việc khác. Kế hoạch 05-KH/BCĐTW với 50 nhiệm vụ đã đặt chuẩn rất đúng: hoàn thành nghĩa là có sản phẩm vận hành, có người dùng và có kết quả kiểm chứng.
Tôi cho rằng cần ưu tiên 6 việc:
Khơi thông giải ngân theo Nghị định 224/2026/NĐ-CP, điều chuyển vốn từ nơi chưa giải ngân sang nơi có dự án sẵn sàng.
Làm sạch, liên thông dữ liệu lõi và áp dụng “không khai lại” cho các thủ tục có số hồ sơ lớn nhất.
Tạo một môi trường làm việc số thống nhất cho cấp xã, kèm bồi dưỡng cấp tốc kỹ năng số.
Xóa vùng lõm sóng, hỗ trợ tại chỗ cho người yếu thế.
Khởi động AI Agent cho 10-20 thủ tục đơn giản, lặp lại.
Thể chế hóa kết quả sau ngày thứ 100.
Ở địa phương, chủ tịch UBND cấp tỉnh là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đúng tinh thần Chỉ thị 29/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026. Về cơ chế, nguyên tắc là “một việc - một chủ - một sản phẩm - một thời hạn”: đo tự động và công khai, hạn chế số liệu tự báo cáo; kiểm chứng độc lập bằng khảo sát người dùng; gắn giải ngân với sản phẩm bàn giao; bảo vệ người dám làm; và sau ngày thứ 100, chuyển chỉ tiêu chiến dịch thành cam kết chất lượng dịch vụ thường xuyên.
Một chiến dịch thành công không đo bằng số cuộc họp hay số văn bản, mà bằng số việc người dân không còn phải làm.
Dùng AI giảm gánh nặng thủ tục
- Từ góc nhìn của ông, trong giai đoạn tiếp theo, cần những giải pháp đột phá nào để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, thay vì chỉ dừng ở số hóa quy trình và đầu tư công nghệ?
- Muốn chuyển đổi số thực sự thành động lực tăng trưởng, cần chuyển từ “số hóa cái đang có” sang “tái thiết kế cách tạo ra giá trị”.
Tôi đề xuất 7 nhóm giải pháp: tái thiết kế trước, số hóa sau; đưa kinh tế số lan tỏa vào các ngành sản xuất qua nền tảng dùng chung và “AI như một dịch vụ” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; đầu tư vào năng lực hấp thụ công nghệ; phổ cập kỹ năng số; đưa AI Agent vào hành chính công; cấp vốn cho kết quả; và đổi mới trách nhiệm người đứng đầu. Xin nhấn mạnh hai nhóm có thể làm ngay.
Thứ nhất, Nền móng đã có: phong trào “Bình dân học vụ số” với nền tảng học trực tuyến tích hợp VNeID, mục tiêu đến hết năm 2026 toàn bộ cán bộ sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số, cùng mạng lưới tổ công nghệ số cộng đồng đến từng thôn, tổ dân phố. Vấn đề còn lại là chất lượng.
Với cán bộ, công chức, cần bồi dưỡng theo vị trí việc làm, sát hạch bằng bài thực hành trên chính phần mềm đang dùng, trong đó có kỹ năng dùng AI an toàn. Với người dân, học qua chính dịch vụ mình cần theo cách “cầm tay chỉ việc”.
Với người yếu thế - khi bình quân cứ 7 người có 1 người từ 60 tuổi trở lên và cả nước có 33,1 triệu lao động phi chính thức - phải thiết kế cho họ trước chứ không phải sau: chuẩn tiếp cận bắt buộc cho dịch vụ công số, nội dung bản địa hóa và có tiếng dân tộc, hỗ trợ thiết bị có mục tiêu, khóa phòng chống lừa đảo cho người cao tuổi, và luôn giữ kênh trực tiếp cùng cơ chế ủy quyền để không ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ hai, đưa AI Agent vào hành chính công, bắt đầu từ những thủ tục đơn giản, lặp lại. AI Agent là “trợ lý số biết làm việc”: hướng dẫn, tra cứu, điền sẵn biểu mẫu, kiểm tra hồ sơ và soạn dự thảo để cán bộ duyệt.
Điều kiện đã chín muồi: Luật Trí tuệ nhân tạo quản lý AI theo mức độ rủi ro; Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành bộ tiêu chí Nền tảng AI hỗ trợ công vụ quốc gia với nguyên tắc AI chỉ tham mưu, cán bộ có thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm; Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh đã đưa trợ lý ảo AI vào phục vụ hành chính công.
Nên bắt đầu từ thủ tục có khối lượng lớn, quy tắc rõ, dữ liệu sẵn có, chẳng hạn chứng thực, loại hồ sơ từng chiếm gần 45% tổng số hồ sơ ở Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2025 - rồi đi lên theo “bậc thang tự chủ” (hình dưới).
Trong đó, mỗi thủ tục chỉ được nâng bậc khi vượt “cổng chất lượng”; người dân luôn biết mình đang làm việc với AI; mọi bước đều có nhật ký và kiểm toán độc lập. Khi được thiết kế để giao tiếp bằng giọng nói, kể cả tiếng dân tộc, AI Agent còn trở thành “người hướng dẫn kiên nhẫn” cho chính người yếu thế.
Về phân bổ nguồn lực, cần cấp vốn cho kết quả, không cấp vốn cho đầu việc: cấp vốn theo mốc sản phẩm; mỗi dự án số dành khoảng 10-15% kinh phí cho đào tạo, tái thiết kế quy trình và hỗ trợ người dùng. Về trách nhiệm, người đứng đầu nên ký “hợp đồng kết quả” với 5-7 chỉ số, công khai bảng điểm hằng quý và gắn với đánh giá cán bộ; đồng thời bảo vệ người dám đổi mới khi rủi ro là khách quan.
Về đo lường, cần dịch chuyển từ chỉ số “đầu vào” - bao nhiêu hệ thống, bao nhiêu dịch vụ - sang chỉ số “giá trị”, đo tự động, công khai và kiểm chứng độc lập, vì một chỉ số khi bị biến thành mục tiêu thì dễ mất ý nghĩa đo lường.
Chuyển đổi số thành công không phải khi chúng ta có nhiều hệ thống hơn, mà khi người dân ít phải nghĩ đến thủ tục hơn: giấy tờ tự đến, dịch vụ tự tìm đến người cần, doanh nghiệp dành thời gian cho sản xuất thay vì cho hồ sơ.
- Xin cảm ơn ông!