close Đăng nhập

Một nhóm thủ tục phải thao tác trên 14 nền tảng dịch vụ công, cán bộ cơ sở vã mồ hôi

Sau nhiều năm chuyển đổi số, mục tiêu khai báo một lần, sử dụng nhiều lần chưa đạt được do dữ liệu phân mảnh, nền tảng của các bộ, ngành chưa liên thông.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x

Trao đổi với VietTimes, ông Nguyễn Xuân Sơn - Giám đốc Sở KH&CN TP Huế - cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở mô hình triển khai, quy trình và cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành.

Để hiện thực hóa mục tiêu khai báo một lần, dùng nhiều lần, cần xây dựng dòng dữ liệu liên thông, chuẩn hóa quy trình và sử dụng 1 nền tảng dịch vụ công thống nhất trên toàn quốc thay vì 14 hệ thống như hiện nay.

Cán bộ cơ sở "chịu trận", địa phương bị động

- Trong quá trình triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị (Kế hoạch 05), theo ông, đâu là những trở ngại lớn nhất trong việc liên thông dữ liệu và quy trình giữa các bộ, ngành, địa phương?

- Kế hoạch 05 là chủ trương rất đúng và cần thiết nhằm tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm trong dữ liệu, quy trình và dịch vụ công. Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Ban Chỉ đạo Trung ương trong việc đưa chuyển đổi số đi vào thực chất, hướng tới mục tiêu người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi từ các dịch vụ công số.

Tuy nhiên, từ góc độ trực tiếp triển khai ở địa phương, tôi cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là mô hình triển khai nền tảng.

nguyen-xuan-son-gd-so-khcn-hue-9691.jpg
Ông Nguyễn Xuân Sơn cho rằng thiếu chuẩn chung khiến dữ liệu khó liên thông, tái sử dụng giữa 14 nền tảng dịch vụ công. Ảnh: Mai Trần.

Chúng ta nói đến nền tảng quốc gia, nhưng thực tế hiện nay lại triển khai theo từng bộ, chứ chưa phải một nền tảng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Mỗi bộ, ngành đều xây dựng một hệ thống riêng để triển khai theo trục dọc của mình.

Chính điều đó dẫn đến hiện nay tồn tại 14 hệ thống khác nhau của mỗi bộ ngành.

Trước đây, toàn bộ các sở, ngành, UBND cấp huyện và hơn 150 xã, phường ở Huế đều vận hành trên một nền tảng dùng chung là Hue-S. Khi cần điều chỉnh hay xử lý một nghiệp vụ thì chỉ cần thực hiện một lần là áp dụng cho toàn bộ hệ thống.

Còn hiện nay, để xử lý cùng một nhóm công việc, cán bộ phải thao tác trên 14 hệ thống khác nhau, tương ứng với từng bộ, từng lĩnh vực quản lý. Điều này không chỉ làm tăng khối lượng công việc mà còn gây khó khăn cho việc liên thông, chia sẻ dữ liệu và chuẩn hóa quy trình - những mục tiêu cốt lõi mà Kế hoạch 05 đang hướng tới.

- Mô hình nhiều nền tảng như hiện nay tác động như thế nào đến hoạt động của địa phương?

- Khó khăn lớn nhất hiện nay rơi vào bộ phận một cửa và đội ngũ cán bộ trực tiếp tiếp nhận, xử lý hồ sơ ở cấp cơ sở. Đây là lực lượng chịu tác động rõ nhất từ việc chuyển sang mô hình nhiều nền tảng.

Trước đây, khi địa phương vận hành trên một nền tảng dùng chung, cán bộ chỉ cần đăng nhập một hệ thống là có thể tiếp nhận hồ sơ, xử lý quy trình, tra cứu thông tin và trả kết quả. Dữ liệu được quản lý tập trung nên các thao tác khá liền mạch.

Còn hiện nay, với mỗi yêu cầu của người dân, cán bộ có thể phải làm việc đồng thời trên nhiều nền tảng khác nhau. Tùy từng thủ tục thuộc lĩnh vực nào thì phải truy cập đúng nền tảng của bộ đó. Trong quá trình xử lý, lại phải đối chiếu với các hệ thống khác để kiểm tra thông tin, lấy dữ liệu hoặc hoàn thiện quy trình nghiệp vụ.

77e73b4c-8cb3-4bab-8497-61f4695d58f2.png
Một cán bộ một cửa phải xử lý hồ sơ trên hệ thống điện tử, đồng thời kết nối với các hệ thống giải quyết thủ tục hành chính của nhiều bộ, ngành. Ảnh: AI.

Điều đó khiến số lượng thao tác tăng lên rất nhiều. Cán bộ phải đăng nhập nhiều hệ thống, làm quen với nhiều giao diện, nhiều quy trình và cách thức vận hành khác nhau. Chỉ riêng việc chuyển đổi qua lại giữa các nền tảng cũng đã mất khá nhiều thời gian, chưa kể nếu một hệ thống gặp trục trặc thì toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ có thể bị ảnh hưởng.

Áp lực càng lớn hơn ở cấp xã, cấp phường và bộ phận một cửa vì đây là nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân. Người dân chỉ nhìn thấy một cán bộ tiếp nhận hồ sơ, nhưng phía sau cán bộ đó có thể phải thao tác trên nhiều nền tảng khác nhau để hoàn thành một thủ tục. Khi việc xử lý chậm hơn hoặc phát sinh lỗi, người dân thường phản ánh với cán bộ tiếp nhận đầu tiên, trong khi nguyên nhân nhiều khi lại nằm ở các hệ thống phía sau.

Một thay đổi rất lớn nữa là địa phương chuyển từ trạng thái chủ động sang bị động. Trước đây, khi địa phương quản lý nền tảng dùng chung, nếu phát hiện lỗi hoặc cần điều chỉnh quy trình để phù hợp thực tiễn thì có thể xử lý ngay.

Còn hiện nay, địa phương chỉ là đơn vị sử dụng các nền tảng do bộ, ngành cung cấp. Nếu phát sinh vướng mắc thì chủ yếu chỉ có thể tổng hợp, kiến nghị lên Trung ương và chờ được điều chỉnh. Điều này khiến quá trình xử lý các bất cập trong thực tiễn mất nhiều thời gian hơn và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp.

Vì sao chưa thể liên kết thông suốt?

- Một trong những mục tiêu quan trọng của chuyển đổi số trong hệ thống chính trị là hiện thực hóa nguyên tắc “khai báo một lần, sử dụng nhiều lần”. Tuy nhiên, mục tiêu người dân không phải nộp nhiều lần cùng một loại giấy tờ đến nay vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

- Muốn tái sử dụng dữ liệu thì về nguyên tắc phải đi qua 3 bước: số hóa, pháp lý hóa và tổ chức dữ liệu một cách khoa học. Hiện nay việc số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính đầu ra thì tương đối tốt vì ngay từ đầu các nền tảng đã được thiết kế để đáp ứng yêu cầu này. Tuy nhiên, muốn tái sử dụng thì không chỉ số hóa kết quả mà phải số hóa toàn bộ các thành phần hồ sơ đầu vào.

Ví dụ một thủ tục có rất nhiều thành phần hồ sơ như bằng cấp, chứng chỉ, giấy xác nhận... Khi số hóa không chỉ lưu hình ảnh hay nội dung, mà còn phải xác định rõ giấy tờ đó thuộc thành phần hồ sơ nào, của thủ tục nào, do đơn vị nào quản lý.

Toàn bộ dữ liệu phải được tổ chức cực kỳ khoa học thì mới có thể tái sử dụng.

- Như vậy, vấn đề không chỉ là số hóa tài liệu, mà còn là cách tổ chức dữ liệu để hệ thống có thể tự động tìm và tái sử dụng đúng hồ sơ cho từng thủ tục?

- Có thể hình dung giống như cách sắp phiếu trong thư viện trước đây. Mỗi giấy tờ được đưa vào đúng một "ngăn" của nó.

Ví dụ khi làm thủ tục đăng ký kết hôn thì hệ thống sẽ tự lấy căn cước cùng những giấy tờ liên quan. Sau này khi đi khai sinh cho con thì lại tiếp tục lấy chính dữ liệu căn cước đó mà người dân không phải nộp lại.

Nhưng thực tế còn phức tạp hơn nhiều. Hiện nay các thành phần hồ sơ không chỉ được phân loại mà còn phải gắn với định danh của từng người.

Khi tôi đăng nhập vào một thủ tục hành chính thì hệ thống phải biết đó là hồ sơ của tôi và tự động lấy đúng những thành phần hồ sơ cần thiết.

Đó mới là bài toán tồn tại lớn nhất.

- Từ kinh nghiệm của Huế, theo ông, cần tháo gỡ điểm nghẽn này ra sao?

- Hiện nay 14 bộ, ngành đều triển khai riêng nhưng chưa có bộ nào xây dựng được bộ công cụ thống nhất để địa phương số hóa các thành phần hồ sơ theo cùng một chuẩn.

Không có chuẩn thì rất khó nói đến chuyện dùng chung và tái sử dụng dữ liệu.

Trước đây Huế chỉ có một nền tảng nên vận hành rất ổn. Khi chuyển sang mô hình 14 nền tảng thì địa phương phải dừng nền tảng cũ. Muốn tiếp tục khai thác dữ liệu thì dữ liệu đó phải liên thông với cả 14 bộ.

Khối lượng công việc liên thông như vậy là rất lớn.

- Kế hoạch 05 đặt mục tiêu hoàn thành liên thông dữ liệu và quy trình xử lý giữa các hệ thống để hình thành một quy trình giải quyết thủ tục hành chính liền mạch. Tuy nhiên, như ông vừa nói, việc liên thông giữa các nền tảng lại là một trong những điểm nghẽn lớn nhất.

- Hiện nay mới chỉ có một số trường hợp được liên thông, còn về tổng thể thì 14 nền tảng vẫn chưa kết nối thông suốt với nhau.

Điều đáng nói là điểm nghẽn không nằm ở công nghệ. Về mặt kỹ thuật, việc kết nối hay lập trình để các hệ thống trao đổi dữ liệu hoàn toàn có thể thực hiện được.

Khó khăn lớn nhất nằm ở sự phối hợp giữa các bộ, ngành và việc mỗi bộ xây dựng quy trình nghiệp vụ theo cách riêng của mình. Khi quy trình chưa được chuẩn hóa và thống nhất thì việc kết nối các hệ thống cũng rất khó phát huy hiệu quả.

Ngay trong nội bộ một bộ hiện nay cũng đã tồn tại tình trạng các hệ thống hoạt động tách rời. Chẳng hạn, hệ thống Dịch vụ công là một nền tảng, còn hệ thống Quản lý văn bản và điều hành công việc lại là một nền tảng khác.

Sau khi giải quyết xong một hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công, cán bộ vẫn phải xuất kết quả, chuyển sang hệ thống quản lý văn bản để ký số, rồi lại tải kết quả trở về hệ thống dịch vụ công. Đó đều là những thao tác thủ công.

Nếu ngay trong một bộ còn phải xử lý theo cách như vậy thì việc liên thông giữa 14 nền tảng của 14 bộ sẽ càng phức tạp hơn rất nhiều. Đây cũng là lý do vì sao việc kết nối dữ liệu hiện nay không chỉ là bài toán công nghệ mà còn là bài toán về quy trình, cơ chế phối hợp và thống nhất cách thức tổ chức thực hiện giữa các bộ, ngành.

780564b5-af2b-454d-af6a-6267a1a60cdfjpeg-8182.jpg
Người dân đến giao dịch tại Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố Huế. Ảnh: Sở KHCN TP Huế.

- AI được kỳ vọng sẽ hỗ trợ cán bộ và người dân, góp phần rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính. Theo ông, AI và các kiosk dịch vụ công có thể hỗ trợ như thế nào trong xử lý các điểm nghẽn này?

- AI, kiosk hay bất kỳ công nghệ nào cũng chỉ là công cụ. Công cụ chỉ phát huy giá trị khi có dữ liệu và được trao quyền truy cập dữ liệu.

Muốn AI hỗ trợ người dân khai báo hồ sơ, tự động kiểm tra thông tin hay tái sử dụng giấy tờ đã có thì trước hết phải có cơ chế cho phép AI kết nối, khai thác và sử dụng dữ liệu giữa các hệ thống.

Nếu các bộ, ngành vẫn vận hành theo các nền tảng riêng và chưa có cơ chế chia sẻ dữ liệu thì AI cũng không thể phát huy hết hiệu quả. Khi đó, AI chỉ hỗ trợ nhập liệu hoặc hướng dẫn thao tác, chứ không thể thay thế được quy trình xử lý hay tự động hóa dịch vụ công.

Có thể hình dung rất đơn giản, AI giống như một người được giao nhiệm vụ vào nhà để giúp chủ nhà làm việc. Nhưng nếu cánh cửa dữ liệu vẫn đóng thì dù người đó có giỏi đến đâu cũng không thể vào bên trong để làm gì cả.

Vì vậy, điều kiện tiên quyết không phải là triển khai thêm AI hay kiosk, mà là phải mở được dòng chảy dữ liệu, xây dựng cơ chế liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành. Khi đó, AI mới thực sự trở thành công cụ tạo ra bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính, thay vì chỉ là một lớp công nghệ đặt lên trên những điểm nghẽn cũ.

Giải bài toán bằng một nền tảng dùng chung

- Như vậy, thực tiễn triển khai bộc lộ nhiều điểm nghẽn liên quan đến mô hình tổ chức, quy trình và hạ tầng dùng chung. Theo ông, đâu là những giải pháp cần được ưu tiên để vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa tạo nền tảng lâu dài cho dịch vụ công số?

- Theo quan điểm của tôi, để giải quyết căn cơ những điểm nghẽn hiện nay thì cần một quyết tâm chính trị rất lớn và có thể lựa chọn một trong hai hướng đi.

Giải pháp thứ nhất là thống nhất cách thức tổ chức thực hiện trên toàn quốc.

Trung ương cần ban hành một khung quy trình chuẩn đối với từng thủ tục hành chính, bảo đảm các bộ, ngành và địa phương cùng vận hành theo một nguyên tắc thống nhất. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đó cũng cần trao quyền chủ động cho địa phương để cấu hình quy trình xử lý phù hợp với thực tiễn khi có thay đổi về tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị, luân chuyển hoặc thay đổi nhân sự.

Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa trải nghiệm người dùng trên toàn bộ các nền tảng. Dù xử lý thủ tục thuộc lĩnh vực nào thì giao diện, thao tác và cách vận hành cũng nên thống nhất. Nếu mỗi nền tảng có một quy trình và cách sử dụng khác nhau thì mỗi lần cán bộ được điều động sang vị trí mới lại phải học từ đầu. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả công việc mà còn ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người dân.

Giải pháp thứ hai mang tính đột phá hơn là xây dựng một siêu nền tảng dịch vụ công dùng chung trên phạm vi toàn quốc, tích hợp toàn bộ các nền tảng hiện nay thành một hệ thống thống nhất.

Thực tế, mô hình này không phải chưa có tiền lệ. Ở quy mô nhỏ mang tính địa phương, tại Huế, các sở, ngành cũng từng vận hành nhiều hệ thống khác nhau, sau đó được hợp nhất thành một nền tảng dùng chung với quy trình thống nhất. Điều đó giúp việc quản trị, vận hành và chia sẻ dữ liệu hiệu quả hơn rất nhiều.

Ở quy mô quốc gia, nếu xây dựng được một siêu nền tảng như vậy thì chúng ta sẽ giải quyết đồng thời nhiều bài toán: từ số hóa, tái sử dụng dữ liệu, liên thông giữa các bộ, ngành cho đến quản trị quy trình, theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu quả thực thi của đội ngũ cán bộ trên cùng một hệ thống.

Đương nhiên, đây là một cuộc cải cách lớn, đòi hỏi hạ tầng công nghệ đủ mạnh, đội ngũ chuyên gia trình độ cao và đặc biệt là sự thống nhất rất cao giữa các bộ, ngành trong cách tổ chức thực hiện.

- Trong khi chờ những giải pháp mang tính căn cơ như vậy, liệu có phương án nào khả thi nhất để bảo đảm sớm thực hiện Kế hoạch 05?

- Trong ngắn hạn, theo tôi nên xây dựng một nền tảng điều phối trung gian, có thể tận dụng VNeID hoặc Cổng Dịch vụ công Quốc gia làm đầu mối truy cập thống nhất.

Theo đó, người dân và cán bộ chỉ cần đăng nhập một lần. Hệ thống trung gian sẽ tự động điều phối người dùng và dữ liệu đến đúng nền tảng nghiệp vụ của từng bộ, ngành mà không phải thao tác trên nhiều hệ thống khác nhau.

Đây có thể xem là giải pháp chuyển tiếp, giúp giảm đáng kể sự phân mảnh trong quá trình sử dụng các nền tảng hiện nay.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng đây chưa phải lời giải cuối cùng. Điều quyết định vẫn là phải thống nhất được cách tiếp cận giữa các bộ, ngành, chuẩn hóa quy trình và hình thành một hạ tầng dữ liệu liên thông thực sự. Chỉ khi đó, mục tiêu mà Kế hoạch 05 hướng tới - người dân chỉ khai báo một lần, dữ liệu được tái sử dụng nhiều lần và dịch vụ công vận hành thông suốt - mới có thể trở thành hiện thực.

Tạo dòng dữ liệu đất đai biến động theo thời gian thực

- Thủ tục hành chính về đất đai lâu nay vẫn là vấn đề người dân quan tâm. Việc tích hợp dữ liệu đất đai, sổ đỏ lên VNeID đã đủ để giải quyết những vướng mắc từng phát sinh ở lĩnh vực tài nguyên - môi trường hay chưa?

- Đất đai là một trong những lĩnh vực phức tạp nhất vì đây là loại dữ liệu vừa có giá trị pháp lý rất cao, vừa biến động liên tục trong thực tế.

Chúng ta đã có những đợt cao điểm rà soát, chuẩn hóa và đồng bộ thông tin thửa đất gắn liền với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, làm sạch dữ liệu đất đai và sau đó vẫn phải tiếp tục cập nhật. Điều đó cho thấy đây không phải công việc có thể làm một lần là xong, mà là quá trình phải được duy trì thường xuyên.

b92c741c-e2ff-4200-99c9-86474f910528jpg-1499.jpg
UBND TP Huế đã tổ chức các tổ công tác về các phường, xã trên địa bàn để trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn, xử lý hồ sơ thủ tục hành chính tồn đọng trong lĩnh vực đất đai. Ảnh: UBND TP Huế.

Để xây dựng được cơ sở dữ liệu địa chính chuẩn, theo tôi có 2 công đoạn quan trọng.

Thứ nhất là đo đạc, chỉnh lý để xác định chính xác hiện trạng thửa đất.

Thứ hai là số hóa, tức đưa toàn bộ thửa đất lên bản đồ số, cập nhật đầy đủ các thuộc tính và gắn thông tin chủ sử dụng theo căn cước.

Chỉ khi hoàn thành đầy đủ 2 bước này thì dữ liệu mới đủ điều kiện để dịch vụ công trực tuyến vận hành thực chất, giảm tối đa việc phải xác minh thủ công tại cơ sở.

Việc Bộ Công an tích hợp dữ liệu đất đai lên VNeID là một bước đi rất tích cực, nhưng theo tôi như vậy vẫn chưa đủ.

Điều quan trọng không chỉ là dữ liệu đã được đưa lên VNeID hay chưa, mà dữ liệu đó có chính xác, được cập nhật kịp thời và có thể sử dụng ngay trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính hay không.

VNeID hiện đóng vai trò là nền tảng xác thực và lưu trữ thông tin của người dân do Bộ Công an quản lý, trong khi các nghiệp vụ về đất đai vẫn do ngành Nông nghiệp và Môi trường quản lý. Nếu hai 2 thống này không được liên thông theo thời gian thực thì ngay khi Văn phòng Đăng ký đất đai cập nhật một giao dịch chuyển nhượng, tặng cho hay biến động khác, dữ liệu trên VNeID có thể lập tức trở nên lạc hậu.

Đó cũng là lý do tôi cho rằng mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là tích hợp dữ liệu lên một nền tảng, mà là xây dựng được dòng dữ liệu luôn đồng bộ giữa các hệ thống.

Muốn dữ liệu thực sự trở thành tài sản số phục vụ dịch vụ công thì phải bảo đảm đồng thời năm yêu cầu: đúng, đủ, sạch, sống và thống nhất. Chỉ khi đáp ứng được những nguyên tắc đó thì mới có thể tái sử dụng dữ liệu một cách an toàn, chính xác và giúp người dân không phải khai báo, nộp lại giấy tờ nhiều lần.

- Dữ liệu đất đai có tính biến động cao. Theo ông, hệ thống quản lý cần đáp ứng yêu cầu nào để việc quản lý, thực hiện các thủ tục hành chính về nhà đất được thuận lợi?

- Điểm nghẽn của dữ liệu đất đai thực ra đã được nhìn thấy từ hàng chục năm trước. Khó khăn cốt lõi nằm ở chỗ dữ liệu chưa đạt chuẩn. Mà dữ liệu chưa chuẩn không phải vì công nghệ, mà vì quá trình thu thập ban đầu chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, trong khi bản thân đất đai là loại dữ liệu luôn biến động theo thực tế.

Mỗi ngày đều có các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, điều chỉnh ranh giới, lấn chiếm, thay đổi hiện trạng sử dụng đất... Nghĩa là ngay cả khi vừa hoàn thành một đợt đo đạc, xác minh hay cập nhật thì ngoài thực tế đã có thể phát sinh những biến động mới.

Vì vậy, nếu chỉ coi làm sạch dữ liệu là một chiến dịch theo từng đợt thì rất khó đạt được kết quả bền vững. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được cơ chế cập nhật liên tục, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý và các hệ thống dữ liệu.

Nói cách khác, dữ liệu đất đai không phải là dữ liệu "tĩnh" mà là dữ liệu "sống". Muốn phục vụ hiệu quả cho dịch vụ công thì hệ thống cũng phải có khả năng phản ánh kịp thời mọi biến động của đời sống thực tế. Chỉ khi đó mới có thể duy trì được một cơ sở dữ liệu luôn đúng, đủ, sạch và có giá trị để tái sử dụng.

- Xin cảm ơn ông!

Chuyển đổi số

Vietnam Post cho biết đã có lượng khách hàng lớn, sẵn sàng cho dịch vụ viễn thông.

Việt Nam có thêm mạng di động Pottel đầu số 075

Ngày 15/10, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post) trúng đấu giá quyền sử dụng mã mạng di động 75, tương ứng với đầu số thuê bao 075, tạo cơ sở để doanh nghiệp phát triển dịch vụ di động dưới thương hiệu Pottel.

Các bộ, ngành, địa phương phải hoàn thành khung kiến trúc số trước 29/1/2027

Các bộ, ngành, địa phương phải hoàn thành khung kiến trúc số trước 29/1/2027

Tại Ngày hội hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026, ông Trần Duy Ninh, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), trình bày chuyên đề về Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, tập trung vào cách tiếp cận, những lưu ý trong quá trình triển khai và công tác quản trị, vận hành sau khi khung kiến trúc được ban hành.