close Đăng nhập

Công nghệ chiến lược được dự phòng tối đa 10% kinh phí để xử lý rủi ro

Thông tư số 49 quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược vừa được ban hành, mở ra cơ chế tài chính linh hoạt hơn đối với những nhiệm vụ có mức độ rủi ro và bất định cao.

00:00
0:00
00:00
Tốc độ phát 1x
Ông Đào Ngọc Chiến cho biết kinh phí dự phòng được bố trí để xử lý những biến động phát sinh trong quá trình nghiên cứu.
Ông Đào Ngọc Chiến cho biết kinh phí dự phòng được bố trí để xử lý những biến động phát sinh trong quá trình nghiên cứu.

Dự phòng tối đa 10% để xử lý rủi ro và cho phép nhiều phương án cùng giải một bài toán

Theo ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), Bộ KH&CN, nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược có mức độ bất định cao, trong đó nhiều kết quả không thể xác định đầy đủ ngay từ đầu. Vì vậy, cơ chế tài chính cần đủ linh hoạt để vừa tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu chủ động triển khai nhiệm vụ, vừa bảo đảm nguồn lực được kiểm soát theo tiến độ và kết quả thực tế.

Một trong những điểm quan trọng về cơ chế tài chính là kinh phí được phân bổ rõ ràng theo từng gói công việc (WP), trong đó xác định cụ thể mục tiêu, sản phẩm, kinh phí và thời gian thực hiện Cách tiếp cận này giúp nguồn lực được gắn trực tiếp với tiến độ và kết quả của từng phần việc thay vì chỉ tập trung kiểm soát các khoản chi đầu vào.

Theo ông Chiến, cơ chế mới cũng cho phép bố trí kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng kinh phí từ ngân sách để xử lý những biến động về giá cả hoặc các phát sinh không lường trước trong quá trình nghiên cứu dài hạn, thường kéo dài 2-3 năm.

Khoản dự phòng không phải là nguồn kinh phí cấp thêm để chấp nhận rủi ro một cách dàn trải, mà là công cụ giúp nhiệm vụ có dư địa xử lý những biến động thực tế trong quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Cùng với cơ chế dự phòng, một điểm đáng chú ý là Nhà nước chấp nhận rủi ro khoa học. Theo ông Chiến, nghiên cứu khoa học có thể không tạo ra kết quả như dự kiến dù nhà khoa học đã thực hiện đúng quy trình, thủ tục và các yêu cầu được đặt ra.

Điều này được phân biệt rõ với những sai phạm trong quản lý và sử dụng nguồn lực công. Việc chấp nhận rủi ro chỉ đặt ra khi quá trình nghiên cứu được thực hiện minh bạch, trung thực và đúng quy định.

Cách tiếp cận này nhằm tạo không gian để các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những bài toán công nghệ mới, nơi kết quả nghiên cứu không thể luôn được xác định chắc chắn ngay từ đầu.

Trao đổi thêm với VietTimes, ông Lê Đình Hanh, Phó giám đốc NAFOSTED, cho biết cơ chế kinh phí dự phòng được thiết kế nhằm tạo dư địa xử lý những phát sinh trong quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.

ldh-2424.jpg
Ông Lê Đình Hanh phân tích cơ chế cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu đối với các bài toán công nghệ có độ rủi ro cao. Ảnh: NAFOSTED.

Theo ông Hanh, ngay từ giai đoạn xây dựng dự toán, kinh phí dự phòng do tổ chức chủ trì đề xuất nếu có và được Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng đánh giá về sự cần thiết, mức bố trí. Khoản này chỉ được phê duyệt tối đa 10% tổng dự toán nhiệm vụ.

Nhiệm vụ thuộc chương trình được dự toán kinh phí dự phòng cho nội dung chế tạo, thử nghiệm sản phẩm. Khoản dự phòng được lập, thẩm định và phê duyệt trong dự toán kinh phí của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để chi cho thay đổi, phát sinh về nội dung, khối lượng công việc, trượt giá của vật tư, nhân công trong thời gian thực hiện nhiệm vụ.

“Cơ chế kinh phí dự phòng không phải là cấp thêm kinh phí để chấp nhận rủi ro một cách dàn trải, mà là công cụ tài chính được thiết kế để quản trị rủi ro khoa học đối với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược có tính đột phá”, ông Hanh nói.

Việc giải ngân gắn với các mốc đánh giá, sản phẩm đầu ra và được kiểm soát thông qua cơ chế giải trình, hậu kiểm, kiểm toán. Trường hợp không sử dụng hoặc sử dụng không hết phải hoàn trả ngân sách nhà nước.

Cách tiếp cận này vừa tạo dư địa để nhà khoa học mạnh dạn thử nghiệm các phương án nghiên cứu có tính đột phá, vừa bảo đảm kỷ luật tài chính, sử dụng hiệu quả và tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.

Không chỉ cho phép xử lý các phát sinh trong quá trình nghiên cứu, cơ chế mới còn mở ra khả năng triển khai đồng thời nhiều phương án đối với cùng một bài toán công nghệ.

Theo ông Hanh, việc triển khai nhiều phương án nghiên cứu chỉ được xem xét đối với những nhiệm vụ công nghệ chiến lược có mức độ rủi ro khoa học cao, khi chưa thể xác định trước phương án tối ưu.

Mỗi phương án phải có mục tiêu, sản phẩm, mốc đánh giá và tiêu chí dừng hoặc tiếp tục rõ ràng. Sau từng mốc đánh giá, chỉ những phương án chứng minh được tính khả thi mới tiếp tục được bố trí kinh phí.

Đây là cách quản trị rủi ro nhằm nâng cao xác suất thành công của các công nghệ đột phá, đồng thời tránh đầu tư dàn trải và lãng phí nguồn lực.

Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị kết quả

Theo Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành, cơ chế tài chính mới hướng tới cách tiếp cận linh hoạt hơn đối với các nhiệm vụ có mức độ phức tạp và rủi ro cao.

Các nhiệm vụ này đòi hỏi khả năng tích hợp hệ thống, huy động nhân lực trình độ cao và quan trọng hơn là đưa kết quả nghiên cứu đến sản xuất, chuyển giao và thương mại hóa. Vì vậy, cách quản lý chỉ tập trung vào kiểm soát chi phí đầu vào khó đáp ứng yêu cầu thực tế.

Điểm đáng chú ý của cơ chế mới là chuyển từ quản lý chi phí đầu vào sang quản trị theo gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra. Tổ chức thực hiện được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng nguồn lực, đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình về tiến độ và kết quả.

Theo đó, mỗi gói công việc được xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Dự toán của toàn nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở các gói công việc và được tổng hợp, đánh giá theo từng mốc.

Cách tiếp cận này giúp trả lời rõ ba câu hỏi: nguồn lực được sử dụng để làm gì, phải tạo ra sản phẩm nào và khi nào kết quả phải được kiểm chứng. Đây cũng là cơ sở để gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ kiểm soát việc chi tiêu.

dsc2202-1772767186665219066294-428.jpg
Doanh nghiệp có thể đóng góp nguồn lực đối ứng bằng máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, nhân lực và quyền sở hữu trí tuệ. Ảnh: USTH.

Kết quả thực hiện tại từng mốc đánh giá là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí và quyết định cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo.

Đối với mốc áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, khi kết quả được Hội đồng đánh giá xác nhận đạt yêu cầu, kinh phí được thanh toán theo mức khoán đã được phê duyệt.

Mốc đánh giá đồng thời là điểm kiểm soát để xem xét tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng sớm theo kết quả thực tế.

Nếu kết quả tại mốc không đáp ứng yêu cầu, việc cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo hoặc tiếp tục phương án nghiên cứu sẽ được xem xét theo quy định. Nhờ đó, nguồn lực có thể tập trung vào những hướng nghiên cứu có kết quả và triển vọng, thay vì kéo dài những phương án không còn phù hợp.

Mở rộng nguồn lực đối ứng từ doanh nghiệp

Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cơ chế mới cũng có cách tiếp cận linh hoạt hơn đối với kinh phí đối ứng của doanh nghiệp.

Theo ông Chiến, kinh phí đối ứng từ doanh nghiệp không chỉ được tính bằng tiền mặt mà còn có thể quy đổi từ máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ hoặc nhân lực.

Cách tính này tạo điều kiện huy động nhiều hơn nguồn lực xã hội cho nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời phản ánh sát hơn những đóng góp thực tế của doanh nghiệp vào một nhiệm vụ nghiên cứu.

Việc mở rộng các hình thức đối ứng cũng giúp tăng khả năng kết nối giữa nghiên cứu với năng lực sản xuất, hạ tầng công nghệ và tài sản trí tuệ sẵn có của doanh nghiệp.

Tổng công trình sư có thể nhận thù lao đến 300 triệu đồng/tháng

Một thay đổi đáng chú ý trong cơ chế tài chính mới là chính sách thù lao đối với nhân lực thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Thay vì chủ yếu dựa trên chức danh hành chính hoặc ngày công, thù lao được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra.

Tổng công trình sư có mức thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng; chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng.

Các thành viên chính có mức tối đa 120 triệu đồng/tháng hoặc 100 triệu đồng/tháng tương ứng từng vị trí. Thành viên trực tiếp thực hiện có mức tối đa từ 70-90 triệu đồng/tháng tùy vị trí, trong khi kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng.

Cách tiếp cận này nhằm tăng khả năng thu hút Tổng công trình sư, nhà khoa học và nhân lực công nghệ trình độ cao cho những nhiệm vụ chiến lược.

Thông tư cũng cho phép thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài theo cơ chế thỏa thuận đối với những lĩnh vực Việt Nam chưa có đủ chuyên gia hoặc cần tiếp cận nhanh tri thức và công nghệ quốc tế.

Mức thuê chuyên gia theo tháng thông thường tối đa bằng mức thù lao của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Trường hợp cần thiết phải thuê với mức cao hơn, tổ chức chủ trì phải thuyết minh sự cần thiết, căn cứ xác định mức thuê, khả năng huy động chuyên gia, hiệu quả dự kiến và khả năng cân đối kinh phí.

Mức thuê tối đa có thể bằng mức thù lao của tổng công trình sư, tương đương 300 triệu đồng/tháng.

Nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược luôn có tính bất định. Một phương án được lựa chọn trên cơ sở khoa học và được tổ chức thực hiện đúng quy định vẫn có thể không đạt kết quả như kỳ vọng do những giới hạn kỹ thuật hoặc yếu tố khách quan phát sinh trong quá trình nghiên cứu. Cơ chế tài chính mới được thiết kế để phù hợp hơn với đặc thù này”, đại diện NAFOSTED cho biết thêm.

Chuyển đổi số

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo trao đổi về giải thưởng Make in Vietnam 2026. Ảnh: ĐK.

Make in Viet Nam 2026 lần đầu có hạng mục riêng cho sản phẩm AI

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam” năm 2026 bổ sung hạng mục Sản phẩm trí tuệ nhân tạo xuất sắc, trong bối cảnh AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi và các sản phẩm Việt có thêm cơ hội được thương mại hóa, vươn ra thị trường quốc tế.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Cán bộ phải giỏi, chuyển đổi số mới bứt phá

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Cán bộ phải giỏi, chuyển đổi số mới bứt phá

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia uy tín trong lĩnh vực kinh tế quốc tế, thương mại và chính sách công - cho rằng tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số không thể chỉ trông chờ vào công nghệ, mà trước hết phải bắt đầu từ con người. Trong chiến dịch 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số, đội ngũ cán bộ cần trở thành lực lượng tiên phong, đủ năng lực số để dẫn dắt người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội

Cộng hòa Dominica là thị trường quốc tế thứ 11 của Viettel, tiếp nối hành trình đầu tư và kinh doanh viễn thông tại nước ngoài. (Ảnh: Viettel)

Viettel vươn ra thị trường quốc tế thứ 11

Tập đoàn Viettel vừa đấu thầu thành công quyền sử dụng 3 băng tần vô tuyến điện và sẽ triển khai xây dựng mạng lưới để cung cấp dịch vụ viễn thông 4G, 5G tại Cộng hòa Dominica.

Người dân nghiêm túc thực hiện cập nhật thông tin đất đai, sẽ tạo nền tảng giảm giấy tờ và kê khai trong giải quyết thủ tục hành chính. Ảnh: thanhhoa.gov.vn.

Sổ đỏ trên VNeID: Người dân sẽ được lợi gì?

Mục tiêu của việc làm sạch dữ liệu đất đai không chỉ là đưa sổ đỏ lên VNeID, mà để dữ liệu được tái sử dụng, giảm giấy tờ, giảm kê khai và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Chủ tịch CMC Nguyễn Trung Chính giới thiệu với Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng (phải) về các sản phẩm, giải pháp công nghệ của CMC. Ảnh: CMC.

Việt Nam cần phát triển AI First, hệ sinh thái cloud

Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng AI và điện toán đám mây là nền tảng bảo đảm chủ quyền công nghệ, đồng thời đề nghị phát triển AI First và hệ sinh thái cloud Việt để nâng sức cạnh tranh quốc tế.