Trung Quốc đối mặt khủng hoảng dân số. Ảnh: Yahoo Finance

Vì sao các quốc gia châu Á không mặn mà với việc sinh nhiều con?

VietTimes – Tỷ lệ sinh ở nhiều quốc gia châu Á trong những năm gần đây có xu hướng giảm. Đặc biệt ở Trung Quốc, chính sách cho phép sinh 3 con cũng không khuyến khích được người dân sinh đẻ.

Ngày 31/5, Trung Quốc chính thức ban hành chính sách ba con, cho phép một cặp vợ chồng sinh tối đa ba con.

Đối với nhiều người, chính sách mới có lẽ ra đời hơi muộn màng. Xét cho cùng, tỷ lệ sinh của Trung Quốc đã ở mức dưới 2 con trong 30 năm qua. Trong dữ liệu điều tra dân số mới nhất, tỷ lệ sinh của Trung Quốc đã giảm xuống 1,3 - một trong những quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất trên thế giới.

Điều kém lạc quan hơn nữa là một khi vấn đề dân số xuất hiện có nghĩa là thời điểm tốt nhất để giải quyết vấn đề dân số đã qua.

Nhìn sang nhiều nền kinh tế trên thế giới, sau nhiều thập kỷ nỗ lực vượt bậc về tiền bạc, chính sách, môi trường, văn hóa..., mức sinh của một số nước đã bắt đầu có những bước tiến nhỏ; cũng có một số nước hoặc khu vực, mức sinh và khả năng sẵn sàng sinh con của phụ nữ vẫn không cải thiện mà hoàn toàn giảm sút.

Tại thời điểm này, Trung Quốc muốn ngăn chặn đà giảm của tỷ lệ sinh, phải nỗ lực mấy thế hệ?

Ngay cả trong xã hội thân thiện với trẻ em nhất, sự gia tăng mức sinh cũng vô cùng mong manh

Vì sao các quốc gia châu Á không mặn mà với việc sinh nhiều con? ảnh 1
Thụy Điển được biết đến là một trong những quốc gia “thiên đường” của những người sắp làm cha mẹ.

Bắc Âu được xem là xã hội thân thiện nhất với trẻ em và phụ nữ. Ở Thụy Điển, khi sinh con hoặc nhận con nuôi, cha mẹ được hưởng 480 ngày nghỉ phép để chăm sóc đứa trẻ. Trong thời gian cha mẹ nghỉ phép, Cơ quan Bảo hiểm xã hội Thụy Điển sẽ trả cho họ hơn 80% tiền lương.

Các công ty Thụy Điển thường cung cấp một số tiện ích cho cuộc sống chăm sóc con cái của nhân viên. Trước khi trẻ lên 8 tuổi hoặc học xong tiểu học, cha mẹ có thể được giảm 1/4 thời gian làm việc. Chẳng hạn như mỗi ngày làm việc 8 tiếng, khi có con dưới 8 tuổi cha mẹ chỉ cần làm việc 6 tiếng.

Nhìn chung, các quốc gia Bắc Âu được đại diện bởi chính sách của Thụy Điển về khuyến khích sinh con bao gồm bốn khía cạnh:

- Trợ cấp kinh tế - Trợ cấp chăm sóc trẻ em hàng tháng (năm 2014, trợ cấp hàng tháng của Thụy Điển là gần 156 USD); phần thưởng một lần (trợ cấp khi sinh và đi học của trẻ); dịch vụ giáo dục và y tế trong tất cả các giai đoạn phát triển của trẻ; trợ cấp nhà ở,...

- Hệ thống hỗ trợ xã hội - Thụy Điển quy định chính quyền địa phương có trách nhiệm cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em cho trẻ em dưới 12 tuổi. Ngoài việc cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em miễn phí trong một thời gian nhất định, còn có các khoản trợ cấp của chính phủ khi tính phí cá nhân.

- Khuyến khích chính sách cân bằng giữa công việc và thời gian nghỉ phép trong gia đình cho các cặp vợ chồng và khuyến khích các cặp vợ chồng chia sẻ thời gian nghỉ phép cùng con cái.

- Một bầu không khí xã hội thân thiện với phụ nữ và chống phân biệt đối xử để đảm bảo bình đẳng giới trong việc làm.

Tất nhiên, các chính sách phúc lợi trên đều phải trả giá. Hơn 3% GDP của Thụy Điển được sử dụng cho phúc lợi chăm sóc trẻ em, đây cũng là một trong những tỷ lệ cao nhất trong Liên minh châu Âu.

Đồng thời, tổng tỷ lệ sinh của Thụy Điển cũng nằm hàng đầu ở các nước phát triển và duy trì ở mức khoảng 1,8 trong những năm gần đây.

Trong vài thập kỷ qua, tỷ lệ sinh của Thụy Điển có thể được mô tả như một "tàu lượn siêu tốc".

Vào cuối những năm 1970, tỷ lệ sinh của quốc gia này giảm xuống còn khoảng 1,60. Chính phủ đã áp dụng một loạt các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ mang thai và khuyến khích sinh con, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế miễn phí, trợ cấp chăm sóc trẻ em cao hơn và luật cấm sa thải phụ nữ mang thai.

Sau đó, chính phủ đã thúc đẩy mạnh mẽ các dịch vụ chăm sóc trẻ em, khuyến khích nam giới làm việc nhà và cùng nhau nuôi dạy con cái, đồng thời tiếp tục kéo dài thời gian nghỉ thai sản. Sau gần 20 năm năm, đến năm 1989, tỷ lệ sinh của Thụy Điển đã tăng lên 2,1.

Nhưng trong những năm 1990, cuộc suy thoái kinh tế đã thu hẹp những lợi ích này. Có lẽ vì lo ngại về bất ổn kinh tế, các gia đình Thụy Điển đã giảm bớt số ca sinh một lần nữa. Vào cuối những năm 1990, tỷ lệ sinh giảm xuống còn 1,5.

Sau khi suy thoái kinh tế kết thúc, chính phủ đã kéo dài thời gian nghỉ phép tối đa của cha mẹ lên 480 ngày và tăng số tiền trợ cấp cho cha mẹ. Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh của Thụy Điển duy trì trong khoảng 1,8-1,9, cao hơn hầu hết các nước phát triển.

Câu chuyện của Thụy Điển cho chúng ta biết rằng cần phải nỗ lực như thế nào để nâng tỷ lệ sinh. Kết quả của nỗ lực này thật mong manh và dễ bị phá hủy.

Tại sao những nỗ lực tăng tỷ lệ sinh của Đông Á không có nhiều tác dụng?

Vì sao các quốc gia châu Á không mặn mà với việc sinh nhiều con? ảnh 2
Tỷ lệ sinh ở các quốc gia Đông Á giảm mạnh.

Là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới, Đông Á cũng bắt đầu khuyến khích sinh con ngay từ những năm 1990, cung cấp phụ cấp chăm sóc trẻ em, khuyến khích các ông bố nghỉ sinh con, rút ​​ngắn thời gian làm việc, cung cấp các dịch vụ chăm sóc trẻ với giá cả phải chăng ...

Nhưng kết quả rất thấp: tỷ lệ sinh của Nhật Bản vẫn ở mức 1,4 - dưới mức của bẫy sinh thấp (Low Fertility Trap), Hàn Quốc và Đài Loan thậm chí còn thấp hơn - 0,84 và 0,99.

Trong số các quốc gia và khu vực Đông Á, Nhật Bản là nước đầu tiên phải đối mặt với vấn đề tỷ lệ sinh giảm. Tuy nhiên, phải đến năm 1989, khi tỷ lệ sinh của Nhật Bản giảm xuống còn 1,57, chính phủ Nhật Bản mới bắt đầu đưa ra một loạt chính sách.

Năm 1994, Nhật Bản đề xuất xây dựng một xã hội nuôi dạy con cái hạnh phúc và cố gắng cho phép các bậc cha mẹ duy trì sự cân bằng giữa công việc và gia đình.

Tuy nhiên, chính sách này chưa phát huy hết tác dụng, tỷ lệ sinh vẫn đang giảm nhanh nên Nhật Bản tiếp tục đầu tư mở rộng chức năng của giáo dục, làm phong phú thêm hoạt động giáo dục nhà trường và hoạt động ngoài nhà trường, giảm gánh nặng cho phụ huynh.

Năm 2003, Nhật Bản ban hành "Luật cơ bản về các biện pháp đối phó với một xã hội có ít người sinh con", tập trung vào việc thúc đẩy hệ thống nghỉ phép của cha mẹ, khuyến khích các ông bố tham gia vào việc nuôi dạy con cái và rút ngắn thời gian làm việc.

Tuy nhiên, tỷ lệ sinh tiếp tục giảm. Năm 2005, tổng tỷ lệ sinh của Nhật Bản giảm xuống 1,26, mức thấp kỷ lục. Nhật Bản tăng cường hơn nữa các chính sách tăng tỷ lệ sinh.

Trong số đó, nổi bật nhất là "cuộc cách mạng giáo dục" được đề xuất vào tháng 9/2017. Kế hoạch này đề xuất đầu tư khoảng 18.2 tỉ USD trong 3 năm để tăng sự nhiệt tình của người Nhật đối với việc sinh con.

Ngày nay, một đứa trẻ sinh ra ở Nhật Bản có thể nhận được 3800 USD trợ cấp. Tuy nhiên, mặc dù chính phủ đã sử dụng tài chính để kích thích sinh đẻ, nhưng tỷ lệ sinh của Nhật Bản chỉ tăng nhẹ và duy trì ở mức cực thấp, khoảng 1,4.

Các tình huống tương tự đã xảy ra ở các khu vực khác của Đông Á.

Ngay từ năm 2005 và 2006, Hàn Quốc và Đài Loan đã nhận thức được vấn đề về tỷ lệ sinh giảm và bắt đầu thực hiện nhiều biện pháp để khuyến khích sinh con.

Các biện pháp này chủ yếu tập trung vào khen thưởng sinh con, trợ cấp chăm sóc trẻ em, dịch vụ chăm sóc trẻ em, nghỉ phép của cha mẹ và các khía cạnh khác, và số tiền đầu tư liên tục được tăng lên.

Trong những năm gần đây, ở Hàn Quốc và Đài Loan, đứa trẻ đầu lòng sẽ nhận được phần thưởng khoảng 400 USD và trợ cấp chăm sóc trẻ hàng tháng. Số tiền dành cho đứa con thứ hai trở lên sẽ tăng lên. Nhiều quận và thành phố có các trung tâm vui chơi dành cho phụ huynh và trẻ em hoạt động công khai miễn phí. Ngoài ra, chính phủ cũng đã mở cửa hoặc trợ cấp cho các lực lượng xã hội để mở một số lượng lớn nhà trẻ, và trẻ sơ sinh có thể được nhận vào các nhà trẻ khi khoảng 6 tháng tuổi.

Tuy nhiên, các biện pháp này đã không thể cứu được tỷ lệ sinh tiếp tục giảm. Đến năm 2020, tổng tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc và Đài Loan thấp hơn ở Nhật Bản lần lượt là 0,84 và 0,99.

Trong những năm qua, nhiều quốc gia và khu vực ở Đông Á đã cam kết khuyến khích mức sinh và đầu tư rất nhiều. Tại sao hiệu quả lại không rõ ràng như vậy?

Một trong những nguyên nhân là do họ đã đánh giá sai tình hình nhân khẩu học, bỏ lỡ thời kỳ phản ứng tốt nhất và bắt đầu khuyến khích sinh đẻ khi mức sinh đã quá thấp và tiến gần đến "bẫy sinh thấp". Lý thuyết "bẫy sinh thấp" cho rằng một khi tổng tỷ lệ sinh thấp hơn 1,5 thì tỷ lệ sinh sẽ rơi vào bẫy và rất khó hoặc thậm chí không thể đảo ngược xu hướng giảm. Đài Loan và Hàn Quốc bắt đầu khuyến khích mức sinh khi tổng tỷ lệ sinh của họ đã giảm xuống lần lượt là 1,18 và 1,08.

Thứ hai, nguồn vốn đầu tư tuy lớn nhưng vẫn thiếu nên ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách.

Ding Yingshun, một nhà nghiên cứu liên kết tại Viện Nghiên cứu Nhật Bản thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, đã chỉ ra trong bài báo "Thảo luận lại về phản ứng của Nhật Bản đối với chính sách mức sinh thấp" rằng đầu tư liên quan của Nhật Bản ở mức tương đối thấp so với các nước khác. Các nước phát triển. Pháp, Vương quốc Anh, Bắc Âu,... đầu tư 3% GDP vào chăm sóc trẻ em, trong khi Nhật Bản chỉ đạt 1%.

Ngoài ra, Ding Yingshun cũng đưa ra một nguyên nhân quan trọng khác là nhận thức về bình đẳng giới của Nhật Bản vẫn còn thiếu. Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra một loạt các biện pháp để bảo vệ việc làm của phụ nữ, nhưng hầu hết mọi người vẫn ủng hộ "đàn ông thống trị thế giới bên ngoài và phụ nữ thống trị bên trong" và kết hôn và sinh con muộn, hoặc thậm chí kết hôn và hiếm muộn.

Đây cũng là vấn đề chung của một số quốc gia và khu vực ở Đông Á.

Báo cáo do Quỹ Dân số Liên hợp quốc công bố năm 2019 cũng lấy Hàn Quốc làm ví dụ và đề cập đến một lý do đặc biệt khiến tỷ lệ sinh thấp ở Đông Á: sự phân công lao động truyền thống và văn hóa gia trưởng ăn sâu vào nhận thức, thời gian làm việc kéo dài, không linh hoạt và cạnh tranh cao.

Chính sách ba con của Trung Quốc có thể không đạt hiệu quả như mong đợi

Vì sao các quốc gia châu Á không mặn mà với việc sinh nhiều con? ảnh 3
Năm 2013, một bảng thông báo khuyến khích "sinh hai con" dán trên tường ở Trung Quốc.

Để đối phó với xu hướng già hóa dân số và giảm bớt áp lực cho người cao tuổi, tháng 11/2011, Trung Quốc đã khuyến khích các gia đình có bố mẹ là con một nên sinh hai con.

Năm 2015, Trung Quốc chính thức bỏ chính sách một con đã được áp dụng trong gần 40 năm, cho phép các cặp vợ chồng sinh hai con. Tuy nhiên, theo đánh giá của tuần báo Nikkei Asia, Trung Quốc đã không thành công trong việc thuyết phục các gia đình sinh hai con.

Sau khi thực hiện chính sách, dân số sinh tăng không đáng kể. Theo số liệu do Cục Thống kê Quốc gia công bố, số lượng sinh năm 2012 là 16.3501 triệu, chỉ tăng khoảng 310.000 so với năm 2011.

Theo phân tích của các học giả vào thời điểm đó, nếu chính sách sinh con thứ hai được tự do hóa hoàn toàn vào năm 2012, ngay cả khi chỉ 70% phụ nữ sẵn sàng sinh con thứ hai, thì Trung Quốc sẽ có thêm 97 triệu trẻ em.

Quan điểm chính thống vào thời điểm đó tin rằng sự gia tăng dân số như vậy chắc chắn sẽ là một thử thách lớn đối với chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm và nhà ở. Tuy nhiên, những sự thật sau đó đã chứng minh rằng những lo ngại này là không xác đáng.

Khi Trung Quốc quyết định tự do hóa dần dần vào năm 2011, chính sách một con được nới lỏng, và sau khi chính sách hai con thực sự bắt đầu vào năm 2016, dự kiến ​​"bùng nổ trẻ em" đã không xuất hiện.

Năm 2016, số trẻ sinh ra ở Trung Quốc là 17,86 triệu, đạt mức cao nhất trong 10 năm. Kể từ đó, dân số sinh giảm năm này qua năm khác. Đến năm 2019, có 14,65 triệu trẻ ra đời, lần đầu tiên lập kỷ lục thấp nhất kể từ năm 1961.

Số liệu điều tra dân số lần thứ bảy vừa được công bố vào tháng 5 năm nay cho thấy số trẻ sinh vào năm 2020 sẽ giảm xuống còn 12 triệu trẻ và tỷ lệ sinh chỉ còn 1,3.

Chính sách hai con đã được thực hiện trong 5 năm, tỷ lệ sinh không tăng mà còn giảm, dân số hàng năm xuống mức thấp mới.

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, những chính sách như một con, sinh con muộn đã ăn sâu vào lòng người dân, thậm chí hình thành một mô hình xã hội mới. Thái độ của người dân đối với sinh đẻ đã thay đổi đáng kể. Thống kê cho thấy kỳ vọng của mỗi cặp vợ chồng đã giảm từ 6 con xuống còn 1,8.

Wang Feng, một nhà nhân khẩu học và giáo sư Khoa Xã hội học tại Đại học Phúc Đán, đã thực hiện một cuộc khảo sát theo dõi 18.000 phụ nữ ở vùng nông thôn Giang Tô và phát hiện ra rằng chỉ có 6% sinh con thứ hai trong vòng ba năm. Nhiều người đàn ông và phụ nữ thành thị thậm chí không kết hôn và hiếm muộn.

Ngoài ra, chính sách hai con chỉ nới lỏng hạn chế sinh đẻ, thiếu chính sách hỗ trợ, không chia sẻ chi phí sinh sản cao của các gia đình cũng dẫn đến yếu tố không sẵn sàng sinh con thứ hai.

Một cuộc khảo sát do Liên đoàn Phụ nữ toàn Trung Quốc thực hiện cho thấy 53,3% gia đình một con không có ý định sinh con thứ hai. Năng lực của cha mẹ, vấn đề chăm sóc con cái và điều kiện kinh tế gia đình là những yếu tố chính ảnh hưởng đến việc sinh con thứ hai.

Nhiều người cho rằng nuôi một đứa trẻ ở thành phố lớn tốn rất nhiều tiền, và 37% gia đình không có kế hoạch sinh con thứ hai vì lý do tài chính.

Với những bài học kinh nghiệm, chính sách dân số lần này rõ ràng là lớn hơn một chút. Bên cạnh việc tự do hóa hoàn toàn cho ba đứa trẻ, giáo dục cũng hơi khác một chút. Chính sách mới cũng đề xuất một số biện pháp hỗ trợ, chẳng hạn như cải thiện mức độ của các dịch vụ chăm sóc trước khi sinh và sau khi sinh, phát triển chăm sóc trẻ, giảm chi phí giáo dục và cải thiện chế độ nghỉ thai sản và bảo hiểm.

Tuy nhiên, kinh nghiệm trước đây ở nhiều nước đã chỉ ra rằng, việc ngăn chặn đà giảm của tỷ lệ sinh không phải là việc trong ngày một ngày hai, nó thường đòi hỏi sự đầu tư của một lượng lớn các nguồn lực xã hội và sự nỗ lực của nhiều thế hệ, và kết quả thường khá mong manh.

Cùng lúc với việc công bố chính sách tự do hóa sinh ba con, Tân Hoa Xã đã thực hiện một cuộc khảo sát trên Weibo, "Bạn đã sẵn sàng cho việc sinh ba con chưa?", trong cuộc khảo sát 31.000 người này, 28.000 người đã chọn "không cân nhắc gì cả", chiếm hơn 90%. Kết quả này cũng phản ánh một phần kết quả của chính sách mới sẽ không khả quan trong tương lai gần.

Theo QQ