Cơ duyên người lính xe tăng
“Tôi còn khỏe, còn chiến đấu được”, câu nói bật ra trong khoảnh khắc sinh tử ấy của người lính xe tăng đã theo suốt cuộc đời ông Nguyễn Hữu Cử, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203 (Quân đoàn 2), ở xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên.
Nếu không trực tiếp gặp, khó có thể hình dung người đàn ông giọng sang sảng, tác phong nhanh nhẹn, nay đã bước sang tuổi 84. Trong cuộc trò chuyện, ông như đưa chúng tôi trở lại nửa thế kỷ trước, những ngày tháng bom đạn và những bước tiến thần tốc làm nên thời khắc lịch sử trưa 30/4/1975.
Nhớ lại cơ duyên đến với quân đội, ông Cử kể năm 1963, khi đang là học sinh phổ thông, ông còn hai môn vấn đáp cuối kỳ thì nhận tin đã có tên trong danh sách nhập ngũ.
Xin được thi nốt rồi nhập ngũ, ông trở về gia đình một ngày trước khi lên đường. “Thời đó thấy bộ đội hành quân, đeo gạch nặng mà vẫn đi, tôi nghĩ thanh niên thì phải đi”, ông nói.
Ban đầu, ông nghĩ chỉ đi nghĩa vụ 3 năm. Nhưng đến năm 1964, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, ông chuyển sang phục vụ quân đội lâu dài.
Từ huấn luyện ở Trung đoàn 48 (Quân khu Tây Bắc), ông lần lượt qua pháo binh rồi được cử đi học chuyên ngành điện xe tăng. Năm 1966, ông về Trung đoàn Xe tăng 203 (sau này là Lữ đoàn Xe tăng 203).
Đầu năm 1968, ông vào Nam chiến đấu tại mặt trận Thừa Thiên Huế. Từ chiến sĩ kỹ thuật, ông dần được tin tưởng giao các vị trí chính trị viên phó, rồi Chính trị viên Đại đội 5, Tiểu đoàn 512, Trung đoàn 203.
Sau Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, ông tham gia bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm.
"81 ngày đêm năm ấy khốc liệt vô cùng, cả hai bên đều chịu nhiều tổn thất. Riêng tiểu đoàn tôi được biên chế 31 xe tăng mà đến những ngày cuối cùng của đợt chiến đấu chỉ còn lại 3 chiếc", ông nhớ lại.
“Tôi còn khỏe, còn chiến đấu được”
Sau khi giải phóng Huế – Đà Nẵng, đơn vị ông thuộc Quân đoàn 2 được lệnh tiến thẳng vào Sài Gòn.
Chiều 26/4/1975, trong trận đánh căn cứ Nước Trong (Đồng Nai), lực lượng xe tăng gặp địa hình mù sương, đội hình bị chia cắt, một số xe sa xuống hố bom, nhiều phương tiện bị hư hỏng. Tiểu đoàn 1 của ông Cử cũng có 2 xe bị sa xuống hố bom phải cứu kéo, một xe bị hỏng buộc phải bỏ lại trên đường.
Khi mở nắp xe để chỉ huy, ông bị mảnh đạn găm vào đầu, tay phải và chân trái. May nhờ có chiếc mũ lính tăng che chắn, nếu không viên đạn đã xuyên qua đầu và ông khó bảo toàn tính mạng.
Vết thương chảy nhiều máu, thấm ướt cả vạt áo, nhưng trước khí thế tiến công “một ngày bằng hai mươi năm”, ông Cử quên hết mọi đau đớn. Sau khi được đồng đội sơ cứu, ông tiếp tục lên xe chỉ huy bộ đội hành tiến.
“Tôi còn khỏe, còn chiến đấu được”, ông nói và cho biết đó cũng là câu trả lời khi có người đề nghị ông tạm nghỉ.
Ngày 30/4/1975, các cánh quân của ta tiến vào Sài Gòn từ nhiều hướng. Dinh Độc Lập - cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là mục tiêu then.
Khoảng 9h ngày 30/4, Tiểu đoàn 1 của ông tiến về cầu Sài Gòn. Ngồi trên xe tăng, qua hệ thống bộ đàm, ông Cử nhận tin Tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ trúng đạn, anh dũng hy sinh khi đơn vị vừa áp sát cầu Sài Gòn.
“Tiểu đoàn trưởng từ trong xe tăng mở nắp ra kiểm tra tình hình thì bị địch bắn trúng đầu, chỉ còn vài giờ trước chiến thắng”, ông lặng đi.
Dù đau xót nhưng không ai được dừng lại. Đơn vị tiếp tục tiến công theo hướng cầu Sài Gòn, ông lên trước trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 1.
Tại đầu cầu Sài Gòn, đơn vị của ông đối mặt với xe tăng M48 của đối phương. Nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, toàn đơn vị đã học thuộc sơ đồ đường phố Sài Gòn từ trước đó cả tháng. Ông ra lệnh cho lực lượng tản ra hai bên, đánh vu hồi, tập trung hỏa lực tiêu diệt hai xe tăng M48. Khi đối phương suy yếu, toàn đơn vị lập tức xông thẳng qua cầu.
Sau khi vượt cầu Sài Gòn, đơn vị tiếp tục đánh chiếm các điểm tại khu vực Hàng Xanh, cầu Thị Nghè rồi tiến thẳng về Dinh Độc Lập.
Qua cầu Thị Nghè, dù người dân hai bên đường vẫy cờ chào mừng, đơn vị vẫn giữ nguyên đội hình chiến đấu, quan sát kỹ các tòa nhà cao tầng để đề phòng nguy cơ bị tấn công từ trên xuống.
Bức ảnh nụ cười giữa sân Dinh Độc Lập
Trưa 30/4/1975, đoàn xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng 843 húc cổng nhưng chưa đổ, sau đó xe khác lao lên phá tung cổng.
“Trong giây phút khải hoàn, chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Nhiều người không kìm được nước mắt”, ông nói.
Giữa niềm vui chiến thắng, ông bị thương, máu còn thấm đẫm áo nhưng không dừng bước. Ông cầm khẩu K59, cùng đồng đội nhanh chóng tiến vào bên trong Dinh. Tại đây, lực lượng đã khống chế và bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.
Lên đến tầng 2, ông thấy Dương Văn Minh đang ngồi bên trong. Trong lúc di chuyển, do không để ý tấm kính trong suốt, ông va mạnh vào cửa kính.
“Tôi chạy vào thì đập bốp vào kính, lúc đó mới biết có kính ở đó”, ông kể.
Sau đó, Dương Văn Minh được đưa sang Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng.
Trong ký ức của ông, khoảnh khắc ấy cũng gắn với một bức ảnh nổi tiếng do phóng viên người Pháp ghi lại, hình ảnh người lính xe tăng với vết máu còn dính trên trán, đang nở nụ cười giữa sân Dinh Độc Lập.
“Vết thương bị địch bắn trước đó lại rỉ máu. Khi phóng viên xin chụp, tôi đồng ý và cười thật tươi”, ông nhớ lại.
Sau này khi nhận lại bức ảnh, ông coi đó là một kỷ niệm đặc biệt của đời lính. Bức ảnh được chụp đúng vào thời điểm Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng, người soạn thảo lời tuyên bố chấp nhận đầu hàng ngày 30/4/1975 cho Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn - ghé thăm, hỏi han khi thấy ông bị thương
“Lúc đó tôi chỉ nghĩ đơn giản, nếu họ đăng báo thì thế giới sẽ thấy người lính Việt Nam quả cảm, dù bị thương, vẫn hiên ngang chiến đấu. Nụ cười này chính là nụ cười của chiến thắng”, ông nói.
Nhiều năm sau, mỗi lần nhìn lại khoảnh khắc tiến vào Dinh Độc Lập, ông Cử vẫn không khỏi nghẹn ngào. Trước mắt ông là chính mình của tuổi 24 - một người lính vừa bước ra từ khói lửa, vừa kịp chứng kiến giây phút non sông thu về một mối.
Sau ngày thống nhất, ông tiếp tục công tác, học tập chính trị, rồi làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào trước khi nghỉ hưu năm 1986. Nhưng những ký ức chiến trường vẫn không rời ông.
“Mỗi dịp 30/4, tôi lại nghĩ đến đồng đội. Nhiều người không kịp nhìn thấy ngày toàn thắng”, ông trầm giọng.
Trên cơ thể ông vẫn còn những mảnh đạn chưa thể lấy ra, như dấu vết của một thời không thể quên.
Giờ đây, trong căn nhà nhỏ ở Hưng Yên, ông vẫn giữ nếp sống giản dị của người lính. Ông tham gia hoạt động địa phương, vận động thanh niên nhập ngũ, sống đúng với truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”.
Ngoài hiên nhà, lá cờ đỏ vẫn tung bay trong gió tháng Tư.
Ông nhìn ra khoảng sân, nói chậm rãi: “Chiến tranh qua rồi, điều quý nhất là hòa bình”.
Không còn là mệnh lệnh giữa bom đạn, câu nói ấy giờ như một phần ký ức của người lính xe tăng từng đi qua những giờ phút quyết định của lịch sử.