Có làm giảm tính răn đe của pháp luật?
-Bộ Công an vừa có đề xuất mở rộng áp dụng hình phạt tiền thay vì phạt tù đối với một số tội danh. Theo ông, đây có phải là bước chuyển căn bản từ tư duy “trừng phạt” sang “phục hồi” trong chính sách hình sự Việt Nam?
-Đề xuất này phản ánh sự chuyển đổi khá căn bản về tư duy hình sự của các cơ quan nhà nước có liên quan. Theo triết lý truyền thống, luật hình sự được tạo ra để trừng phạt theo cách rất đặc thù là tước bỏ tự do của kẻ phạm tội. Nó không đơn giản là vấn đề tự do cá nhân mà còn là việc cách ly tội phạm khỏi xã hội để bảo đảm an toàn cho cộng đồng.
Đương nhiên, bên cạnh phạt tù thì vẫn kèm theo các hình phạt khác bao gồm khắc phục hậu quả, tức trừng phạt về kinh tế hay nói đơn giản là phạt tiền, cũng có nghĩa là kết hợp giữa các chế tài hình sự và dân sự.
Trên thực tế, Bộ Luật hình sự 2015 được sửa đổi đã có những thay đổi nhất định của triết lý truyền thống đã nói. Theo đó, quy định phạt tiền thay cho phạt tù đối với một số tội danh trong lĩnh vực kinh tế, đồng thời cho phép Toà án có thể áp dụng đồng thời cả phạt tù và phạt tiền hoặc phạt tiền thay cho phạt tù.
Đề xuất mới của Bộ Công an có 2 nội dung chính, một là mở rộng các tội danh, chủ yếu là tội kinh tế của người có chức vụ, được đương nhiên áp dụng phạt tiền thay cho phạt tù và hai là, tăng mức phạt tiền trong các trường hợp nhất định. Về điều kiện để áp dụng phạt tiền, theo đề xuất bao gồm người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Có thể nói đó là thực tiễn và xu hướng phát triển mới của luật hình sự không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới, được khái niệm hoá bằng sự chuyển đổi từ “công lý trừng phạt” sang “công lý phục hồi”. Nó dựa trên nhiều lý do, tựu trung có 2 khía cạnh chính.
Thứ nhất, đối với những người phạm tội về kinh tế, thông thường việc phạt tù thời gian ngắn ít có hiệu quả giáo dục và cải tạo, chưa muốn nói là không chạm đến động cơ phạm tội của họ là kiếm lời vật chất.
Thứ hai, đối với xã hội, việc cách ly tội phạm bằng phạt tù không có ý nghĩa bằng đền bù tổn thất vật chất đã bị lấy đi, ngoài ra còn mất chi phí cho việc giam giữ tội phạm.
Do vậy, tôi cho rằng đề xuất chính sách đi theo hướng phù hợp và đúng đắn, mặc dù từ ý tưởng cho đến thiết kế các điều luật và cơ chế thực thi còn là một câu chuyện cần bàn, bởi nó rất phức tạp và nếu không được làm đúng đắn thì sẽ có nguy cơ “lợi bất cập hại”.
-Có ý kiến lo ngại việc phạt tiền thay cho phạt tù có thể làm suy giảm tính răn đe của pháp luật. Ông nhìn nhận thế nào về sự đánh đổi giữa tính nghiêm khắc và tính nhân đạo trong đề xuất, nói rộng ra liệu sẽ có các tác động trái chiều nào khi áp dụng chính sách, cơ chế mới này ?
-Đề xuất chính sách mới thể hiện sự phát triển của tư duy hình sự. Nó cần thiết nhưng không được làm thay đổi nền tảng căn bản của luật hình sự, đó là trừng phạt và răn đe đối với tội phạm. Ngoài ra, thách thức lớn nhất không phải là soạn thảo các quy định trên văn bản mà là các cơ chế và biện pháp thực thi có liên quan, nhằm loại trừ hay giảm thiểu các tác động trái chiều. Về khía cạnh này, có thể nêu 3 rủi ro chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về tâm lý xã hội. Tội phạm kinh tế thường là những người giàu, nay nếu họ bị pháp luật trừng trị mà lại có thể dùng tiền thay cho đi tù thì sẽ làm cho người dân bình thường nghĩ rằng công lý phụ thuộc vào tiền. Nói cách khác, nó tạo tâm lý không tin vào sự bình đẳng trước pháp luật.
Thứ hai, việc bảo đảm công bằng, minh bạch khi ấn định mức phạt cũng như cơ chế thực thi sẽ khó khăn. Luật sẽ cần được thiết kế một cách khoa học và tinh vi để tránh các quyết định tuỳ nghi. Hơn nữa, theo lẽ thường, để bắt ai đó đi tù thì dễ nhưng việc truy tìm và thu hồi được tài sản của họ sẽ khó hơn nhiều, trong đó bao gồm cả vấn đề xác định quyền sở hữu, định giá và phát mại tài sản không phải là tiền và các biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản. Còn nếu để người bị truy tố, xét xử tự nguyện nộp tiền thì lại dễ dẫn đến sự “lạm dụng” thông qua việc đàm phán, mặc cả chính thức và phi chính thức có thể diễn ra ở tất cả các khâu từ điều tra, truy tố đến xét xử.
Thứ ba, là rủi ro lớn nhất, đó là làm giảm tính răn đe. Điều này sẽ xảy ra một khi những kẻ sắp phạm tội chủ động tính toán để định lượng rủi ro pháp luật, theo hướng nếu tài sản trục lợi lớn hơn mức phải trả thì vẫn có lời. Từ đó, một tâm lý hay động cơ nảy sinh là làm sao để lấy được thật nhiều tiền bạc, tài sản hơn nữa để nếu chẳng may “sa lưới pháp luật” thì dù có phải nộp phạt nhưng tránh được tù, đồng thời vẫn dư thừa của cải để sống tiếp.
Để ứng phó rủi ro này, liên quan đến tội phạm chức vụ hay tham nhũng, ở Trung Quốc và nhiều nước, người ta áp dụng chế tài tịch thu toàn bộ tài sản mà tội phạm có được, hay ít nhất phạt tiền ở mức gấp nhiều lần tài sản chiếm đoạt hay thiệt hại gây ra. Điều này có tính răn đe rất lớn.
Làm sao khắc phục tình trạng người có tiền thì thoát tù?
-Dự thảo nhấn mạnh điều kiện áp dụng phạt tiền thay tù như: thành khẩn, tích cực hợp tác và đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại. Theo ông, điều kiện ấy đã đủ chưa và cơ chế nào để tránh tình trạng người có tiền thì thoát tù, còn người không có điều kiện sẽ chịu bất lợi?
-Theo tôi việc áp dụng cơ chế phạt tiền thay cho phạt tù không thể đại trà mà gắn với các điều kiện cụ thể là đúng. Tuy nhiên, đó là các điều kiện gì thì cần nghiên cứu kỹ lưỡng theo hướng có thể xác định một cách rõ ràng, minh bạch và hợp lý. Chẳng hạn, đối với điều kiện “thành khẩn, hợp tác”, sẽ khá định tính, tức có thể do Cơ quan chức năng tuỳ nghi quyết định, nên cần nghiên cứu làm sao để lượng hoá được. Hay về điều kiện “đã khắc phục hậu quả”, tức theo logic, tiền phải được nộp trước cả khi tuyên án hay kết tội, thì có thể gây vướng mắc về nguyên tắc tố tụng.
Nhưng điều quan trọng hơn cần lưu ý là khi bị Toà kết án và cho giảm án mà khoản tiền đương sự phải nộp chỉ bằng hay tương đương với “khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại”. Khi đó, chế tài phạt tiền thay cho phạt tù sẽ không còn mang tính hình sự mà chỉ còn là trách nhiệm bồi hoàn dân sự đơn giản, tức ai lấy đi hay gây thiệt hại bao nhiêu thì sẽ phải hoàn trả bấy nhiêu, có nghĩa rằng về thực chất đương sự không mất gì cả.
Chẳng hạn, trong vụ án Trịnh Văn Quyết của Công ty FLC “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thao túng thị trường chứng khoán”, căn cứ Bộ luật hình sự hiện hành, Toà phúc thẩm đã giảm án tù cho ông Quyết tới 14 năm, với điều kiện khắc phục hậu quả là 2.470 tỷ Đồng. Khoản tiền này về bản chất không có ý nghĩa trừng phạt mà chỉ là thu hồi tài sản đã bị đương sự chiếm đoạt mà thôi.
Cho nên, tôi hoan nghênh đề xuất của Bộ Công an theo hướng khắc phục các bất hợp lý của luật hiện hành, tức phân biệt sự khác nhau giữa trừng phạt và bồi hoàn vật chất.
-Một mục tiêu quan trọng của chính sách mới này là tăng khả năng thu hồi tài sản, đặc biệt trong các tội phạm kinh tế, tham nhũng. Theo ông, phạt tiền liệu có thực sự hiệu quả hơn án tù trong việc thu hồi tài sản thất thoát?
-Theo tổng kết của các cơ quan chức năng, việc truy tố, xét xử tội phạm tham nhũng được thực hiện khá quyết liệt, nhưng hiệu quả về thu lại tài sản bị chiếm đoạt lại không tương xứng. Trong khi như đã đề cập, các cơ quan tố tụng gặp nhiều khó khăn trong truy tìm và xác định tài sản của đương sự trong vụ án phải thu hồi. Chính sách hình sự mới rõ ràng có tác dụng trực tiếp để tháo gỡ điều này bằng cách khuyến khích đương sự tự nguyện giao nộp tài sản.
Tuy nhiên, đối với các tội phạm kinh tế liên quan đến tham nhũng thì cần nhìn nhận vấn đề một cách sâu xa hơn. Đó là xác định tài sản thất thoát là tài sản nào? Chẳng hạn, trong nhiều vụ án đã xét xử, trên thực tế đương sự gây thất thoát về tài sản rất lớn nhưng việc giao nộp tiền trước hay ngay tại phiên toà lại chỉ giới hạn vào các khoản trục lợi trực tiếp, là khoản tiền hối lộ. Đó đương nhiên chỉ là quan hệ nhận - trả đối với khoản tiền bất chính mà không phải là thu hồi tài sản cho mục đích khắc phục hậu quả.
Tiến gần hơn các chuẩn mực quốc tế về tư pháp hình sự
-Trong bối cảnh hệ thống trại giam chịu áp lực lớn, việc mở rộng hình phạt tiền được kỳ vọng giúp giảm chi phí xã hội. Tuy nhiên, liệu Việt Nam đã có đủ hạ tầng pháp lý và năng lực kiểm soát tài sản, thu nhập để thực thi hiệu quả chính sách này chưa?
-Việc giảm chi phí xã hội cho hệ thống giam giữ đương nhiên là một tác động được tính đến của chính sách mới, và điều này cũng là một cân nhắc chủ đạo ở các nước đi theo xu hướng này, đặc biệt khi ở đó, các tù nhân không có nghĩa vụ lao động bắt buộc để tạo thêm thu nhập. Vấn đề là nếu chi phí giam giữ giảm xuống mà chi phí hành chính để kiểm soát và chi phí tố tụng để truy tìm và thu hồi tài sản lại tăng lên thì hiệu quả tổng thể của chính sách sẽ không đạt được.
Về e ngại này, tôi cho rằng có thể được giải quyết trong bối cảnh tăng cường số hoá nói chung trong quản trị công của bộ máy nhà nước, đi kèm với cơ chế liên thông về thu thập, quản lý và chuyển giao dữ liệu của doanh nghiệp và cư dân do Bộ Công an chủ trì. Theo đó, cùng với các biện pháp như đăng ký tài sản, kê khai thu nhập và giám sát tài khoản ngân hàng, các thách thức trong việc thu hồi tài sản của các vụ án kinh tế chắc chắn sẽ dần được khắc phục trong tương lai.
-Đề xuất mới của Bộ Công an cũng đặt trong tổng thể xu hướng thu hẹp án tử hình và nhân đạo hóa pháp luật hình sự. Theo ông, Việt Nam đang tiến gần hơn đến các chuẩn mực quốc tế về tư pháp hình sự hay vẫn còn những khoảng cách đáng kể?
-Thực ra trên thế giới đang tồn tại song hành cả 2 xu hướng. Đó là bỏ hẳn án tử hình và vẫn duy trì nhưng thu hẹp phạm vi áp dụng. Việt Nam đang đi theo xu hướng thứ hai và giảm bớt án tử hình trong các tội phạm kinh tế. Tôi đồng tình với cách tiếp cận này, không chỉ bởi lý do “nhân đạo hoá” mà còn qua nghiên cứu, thấy rằng việc áp dụng án tử hình nói chung không nhất thiết hay đương nhiên có tác dụng răn đe tội phạm như mong đợi.
Chẳng hạn, đối với các tội phạm phi kinh tế thuộc loại nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng, tác dụng răn đe của luật hình sự chỉ là một yếu tố “cần” trong khi các biện pháp “đủ” thì phải bao gồm nhiều yếu tố khác nữa liên quan đến giải quyết nguồn gốc và điều kiện phát sinh tội phạm. Còn đối với các tội phạm kinh tế, trên thực tế mặc dù luật có quy định trong khung hình phạt nhưng phạm vi áp dụng án tử hình của các cơ quan tố tụng lại rất hạn chế và hiếm gặp. Cho nên, nếu xét đến tính hà khắc của tư pháp hình sự thì về thực chất, chúng ta đang thấy nó thể hiện ở các bản án phạt tù nhiều hơn
Phạt tiền thay án tù tạo ra thay đổi như thế nào?
- Nếu được thiết kế và thực thi tốt, ông kỳ vọng chính sách “phạt tiền thay án tù” sẽ tạo ra những thay đổi gì trong nhận thức, hành vi của người dân, doanh nghiệp và cả trong tư duy xét xử của tòa án?
-Đầu tiên tôi thấy cần định nghĩa “thiết kế và thực thi tốt” nghĩa là gì ? Để nói gọn và nhấn mạnh, nếu các luật nói chung về quản trị nền kinh tế đang được thiết kế lại theo hướng quy định nguyên tắc để tạo sự linh hoạt trong thực thi, thì với luật hình sự lại nên hoàn toàn khác hay ngược lại. Các điều luật trên văn bản về cả tội danh và hình phạt lẫn quy trình tố tụng phải càng chi tiết, cụ thể càng tốt, trong đó việc cần làm ngay là thu hẹp bớt khung hình phạt để hạn chế việc áp dụng tuỳ nghi. Chẳng hạn, cùng một tội danh và cùng các vụ án tương tự mà các cơ quan tố tụng lại áp dụng hình phạt mỗi nơi, mỗi tình huống một khác.
Còn để “thực thi tốt”, tôi cho rằng cần bảo đảm và tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung. Theo đó, các cơ chế giám sát, phản biện và công khai hoá đối với cả quy trình và quyết định tố tụng cần được đề ra và nghiêm túc thực hiện.
Còn về kỳ vọng đối với các tác động tích cực của chính sách, tôi nghĩ sẽ có sự khác nhau giữa các nhóm đối tượng.
Đối với người dân, rất có thể việc giảm hay không phạt tù đối với các tội phạm kinh tế là điều không được mong đợi. Tuy nhiên, nếu tăng áp dụng phạt tiền một cách công khai, minh bạch thì tôi tin người dân sẽ ủng hộ và tăng thêm niềm tin vào thực thi công lý, bởi ít nhất họ có thể theo dõi, nắm bắt thông tin công khai về hình phạt mà đương sự phải gánh chịu. Cụ thể, một người dân bình thường không biết một phạm nhân bị giam giữ thế nào nhưng sẽ biết ngay về các khoản tiền phạt mà người ấy phải trả.
Đối với doanh nghiệp, chính sách mới sẽ tác động rất tích cực. Lý do bởi việc áp dụng phạt tiền thay cho phạt tù sẽ tạo điều kiện cho các đương sự là lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp hoặc có cơ hội tiếp tục điều hành doanh nghiệp, hoặc ít nhất tách biệt giữa cá nhân phạm tội và chịu hình phạt với các pháp nhân sản xuất – kinh doanh là thực thể cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
Còn đối với toà án - hạt nhân của hệ thống tư pháp - chính sách mới được kỳ vọng sẽ tác động cả về tư duy xét xử và ứng xử nghiệp vụ. Một khi theo đuổi “công lý phục hồi” thay cho “công lý trừng phạt”, các thẩm phán và hội đồng xét xử sẽ tập trung hơn vào đánh giá các hậu quả vật chất mà kẻ phạm tội gây ra hơn là các hành vi và tội danh dễ thấy, dễ xác định. Công việc này sẽ phức tạp và đòi hỏi cao hơn về cả năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm.
Tuy nhiên, thông qua đó, toà án nói riêng và cơ quan tố tụng nói chung sẽ đóng một vai trò mới ngoài chức năng bảo vệ truyền thống, trở thành những cơ cấu tham gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kiến tạo và phát triển kinh tế - xã hội.
-Cám ơn Luật sư!