LTS: Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh (Quy định 224), thay thế Quy định số 15-QĐ/TW năm 2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân (Quy định 15), đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy quản lý hoạt động kinh tế của đảng viên. Quy định mới hướng tới mở rộng quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp, đồng thời đặt ra những yêu cầu chặt chẽ về kiểm soát xung đột lợi ích, ngăn chặn việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn và nguồn lực công để trục lợi.
Việc đưa quy định vào thực tiễn đặt ra yêu cầu phân định rõ quyền kinh doanh của đảng viên với trách nhiệm kiểm soát quyền lực công, bảo đảm tính minh bạch và liêm chính. Đâu là những ranh giới cần được xác lập, cơ chế nào có thể ngăn ngừa lợi ích nhóm và làm thế nào để chính sách thực sự khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân? Mời bạn đón đọc tuyến bài Đột phá mới đảng viên làm kinh tế.
Tư duy đột phá mới
- Thưa ông, sau 20 năm thực hiện Quy định 15, Trung ương đã ban hành Quy định số 224 thay thế. Theo ông, quy định mới mang ý nghĩa chiến lược như thế nào trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?
- Sau hai thập kỷ, Quy định 15 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử khi mở đường cho đảng viên dấn thân làm kinh tế, giải phóng nhận thức về khu vực tư nhân. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế hiện nay đã thay đổi căn bản với quy mô lớn hơn, đa dạng loại hình sở hữu và các phương thức giao dịch tài chính phức tạp. Việc Trung ương khóa XIV ban hành quy định mới mang tính chuyển đổi thể chế sâu sắc, không chỉ cập nhật văn bản mà là bước định hình lại phương thức quản trị của Đảng đối với hoạt động kinh tế.
GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, chuyên gia phân tích chính trị - kinh tế. Ảnh: MK/AI hỗ trợ.
Ý nghĩa chiến lược nằm ở chỗ quy định mới thể chế hóa các chủ trương, đường lối lớn, tôn trọng tối đa quyền tự do kinh doanh của công dân theo Hiến pháp, đồng thời xác lập hàng rào kỹ thuật phòng ngừa tiêu cực. Đây là tiền đề quan trọng để giải phóng toàn bộ sức sản xuất của xã hội, biến kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng, đồng thời giữ vững bản chất liêm chính của bộ máy lãnh đạo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
- Việc phân định rõ trách nhiệm giữa đảng viên thường và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hoạt động kinh tế là một điểm đột phá. Theo ông, đâu là ranh giới cốt lõi giữa "quyền làm giàu chính đáng của người công dân, đảng viên" và "những ràng buộc bắt buộc đối với người nắm giữ quyền lực công" để vừa khuyến khích dấn thân, vừa ngăn ngừa xung đột lợi ích?
- Ranh giới cốt lõi nằm ở bản chất của sự sở hữu tài nguyên và thẩm quyền quyết định. Đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thực hiện quyền làm giàu bằng tài sản cá nhân, năng lực quản trị và tri thức, chịu rủi ro hoàn toàn theo quy luật thị trường. Quyền kinh doanh của họ là quyền công dân được pháp luật và Điều lệ Đảng bảo hộ. Ngược lại, cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người đại diện cho quyền lực công, trực tiếp phân bổ nguồn lực, phê duyệt chính sách hoặc có lợi thế tiếp cận thông tin mật.
Sự ràng buộc đối với nhóm này không phải là hạn chế quyền công dân một cách vô lý, mà là chuẩn mực bắt buộc để ngăn ngừa xung đột lợi ích. Một khi đã gánh vác trách nhiệm công quyền, cán bộ phải chấp nhận sự giám sát khắt khe hơn, loại bỏ cơ hội lợi dụng chức vụ để trục lợi cho bản thân hoặc thân nhân. Sự phân định minh bạch này vừa tạo tâm lý an tâm cho đảng viên bình thường dấn thân phát triển kinh tế, vừa ngăn chặn tình trạng dùng quyền lực công "định hướng" thị trường cho lợi ích cá nhân.
Xung đột lợi ích và chuẩn mực liêm chính
- Trong thực tiễn, nguy cơ lớn nhất đối với đảng viên là cán bộ lãnh đạo khi tham gia hoặc có người thân tham gia kinh doanh là việc nắm giữ lợi thế thông tin và dùng quyền lực "dọn đường" cho doanh nghiệp sân sau. Theo ông nên có những "hàng rào kỹ thuật" nào cần được thiết lập trong quy định mới để triệt tiêu tận gốc hiện tượng này?
- Để triệt tiêu tận gốc hiện tượng doanh nghiệp sân sau, theo tôi, quy định mới cần thiết lập hệ thống hàng rào kỹ thuật ba lớp.
Thứ nhất là công khai và minh bạch hóa triệt để lợi ích, yêu cầu kê khai bắt buộc danh mục đầu tư, tài sản và hoạt động kinh doanh của cán bộ cũng như người thân trong gia đình (vợ, chồng, con, bố, mẹ, anh chị em ruột) trên hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung.
Thứ hai là cơ chế giải trình và tự động thoái lùi, khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu xung đột lợi ích nào giữa chức trách được giao và hoạt động của doanh nghiệp liên quan, cán bộ phải chủ động báo cáo và rút khỏi quá trình thẩm định, phê duyệt dự án đó.
Thứ ba là kiểm soát quyền lực thông qua công nghệ, bắt buộc đấu thầu qua mạng công khai cho tất cả các gói thầu sử dụng vốn công, tài nguyên công. Khi mọi dữ liệu giao dịch, quy hoạch, dự án được minh bạch hóa trên không gian số, lợi thế thông tin ngầm sẽ bị triệt tiêu, từ đó chặn đứng hành vi dùng quyền lực công để dọn đường cho lợi ích nhóm.
- Thưa ông, tiêu chuẩn và chuẩn mực liêm chính dành cho đảng viên đứng đầu doanh nghiệp Nhà nước (quản lý vốn công) và đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân (tự chủ vốn tư) cần được thiết kế khác biệt ra sao để vừa bảo vệ tài sản công, vừa bình đẳng và không gây tâm lý e ngại cho khu vực tư nhân?
- Sự thiết kế khác biệt phải dựa trên bản chất vốn và trách nhiệm pháp lý. Đối với đảng viên đứng đầu doanh nghiệp Nhà nước, họ là người đại diện chủ sở hữu quản lý tài sản công, do đó chuẩn mực cao nhất là tính giải trình, hiệu quả bảo toàn vốn và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý tài chính công.
Nguy cơ lớn nhất của họ là chuyển dịch tài sản công sang lợi ích tư, nên việc kiểm soát phải tập trung vào các giao dịch với bên liên quan, tính minh bạch trong bổ nhiệm và mua sắm. Ngược lại, đảng viên làm chủ Doanh nghiệp Tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình. Chuẩn mực dành cho họ là tuân thủ pháp luật, kinh doanh liêm chính, thực hiện nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi trường và người lao động.
Đảng không can thiệp vào hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của họ, chỉ yêu cầu không lợi dụng danh nghĩa tổ chức Đảng hay mối quan hệ chính trị để tranh thủ ưu đãi bất hợp pháp. Sự phân định này giúp bảo vệ vốn nhà nước mà không gây nhầm lẫn hay can thiệp thô bạo vào hoạt động tư nhân.
Đồng bộ thể chế
- Trước sự xuất hiện của các hành vi thâu tóm, trục lợi tinh vi hiện nay (như đứng tên hộ tài sản, thao túng thị trường tài chính, bất động sản, can thiệp ngầm vào gói thầu...), Quy định về những điều đảng viên không được làm cần cụ thể hóa các hành vi cấm nào để tạo hành lang minh bạch, dễ nhận diện và dễ xử lý?
- Quy định về những điều đảng viên không được làm cần kịp thời nhận diện và mô tả chính xác các hành vi vi phạm mới phát sinh trong nền kinh tế hiện đại. Cụ thể, theo tôi, cần cấm tuyệt đối việc đứng tên hộ, che giấu quyền sở hữu cổ phần, vốn góp, bất động sản hoặc tài sản cho người khác nhằm tẩu tán hay hợp thức hóa nguồn tiền bất minh. Cấm cán bộ, đảng viên sử dụng thông tin nội bộ, thông tin quy hoạch chưa công bố để đầu cơ tài chính, chứng khoán, bất động sản hoặc cung cấp cho người thân trục lợi.
Cấm hành vi thành lập các doanh nghiệp "vỏ bọc", doanh nghiệp ma để tham gia đấu thầu, thông đồng giá, cài cắm tiêu chí kỹ thuật nhằm thâu tóm dự án công. Cấm việc thành lập các quỹ nội bộ, lợi dụng danh nghĩa từ thiện, xã hội để chuyển dịch tài sản bất hợp pháp. Khi các hành vi này được định danh cụ thể, định lượng rõ ràng, tổ chức Đảng và các cơ quan chức năng sẽ có căn cứ minh bạch để kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh.
- Để quy định của Đảng đi vào cuộc sống, hệ thống pháp luật Nhà nước (như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phòng chống tham nhũng...) cần sửa đổi tương thích ra sao, nhất là cơ chế minh bạch hóa "chủ sở hữu hưởng lợi" và siết chặt quy định về khoảng thời gian đảm bảo (cooling-off period) sau khi đảng viên thôi giữ chức vụ, thôi công tác hoặc nghỉ hưu?
- Sự tương thích giữa quy định của Đảng và pháp luật nhà nước là điều kiện tiên quyết để quy định đi vào thực tiễn. Trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, cần luật hóa nghĩa vụ đăng ký và công khai "chủ sở hữu hưởng lợi" (beneficial ownership), tức người thực sự kiểm soát doanh nghiệp chứ không chỉ người đứng tên trên giấy phép, nhằm ngăn ngừa việc dùng người thân làm sân sau.
Trong Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Cán bộ, công chức, cần hoàn thiện quy định về kiểm soát xung đột lợi ích, đặc biệt là quy định bắt buộc về "khoảng thời gian đảm bảo" (cooling-off period). Theo đó, cán bộ lãnh đạo sau khi thôi chức vụ hoặc nghỉ hưu trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ: từ 2 đến 5 năm) không được phép thành lập, quản lý hoặc làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong chính lĩnh vực mà trước đó họ trực tiếp quản lý. Việc siết chặt này nhằm ngăn chặn tình trạng thương mại hóa thông tin, mối quan hệ và chính sách có được trong thời gian tại vị.
Biến quy định thành lá chắn và cú hích phát triển
- Nhiều vụ án kinh tế lớn thời gian qua cho thấy sự cấu kết bất chính giữa một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức quyền với các tập đoàn tư nhân. Nhìn từ những bài học đắt giá này, thưa ông, làm thế nào để quy định mới vừa là "lá chắn" bảo vệ cán bộ liêm chính, vừa là "lưới thép" ngăn ngừa mô hình tư bản thân hữu thao túng chính sách?
- Quy định mới muốn trở thành "lá chắn" và "lưới thép" thì phải triệt tiêu cơ chế "xin, cho" và loại bỏ tính tùy nghi trong quyết định hành chính. Tính chất "lá chắn" thể hiện ở việc quy định rõ những gì cán bộ được làm và không được làm, tạo hành lang an toàn pháp lý để cán bộ tâm huyết, liêm chính yên tâm thực thi công vụ mà không sợ bị cài bẫy hay rơi vào vùng xám quy định.
-Tính chất "lưới thép" thể hiện ở việc siết chặt kỷ luật, ứng dụng công nghệ để kiểm sát quyền lực, xử lý nghiêm mọi sự cấu kết bất chính. Khi ranh giới giữa kiểm soát công quyền và quyền tư nhân được vạch rõ, các tập đoàn tư nhân sẽ buộc phải cạnh tranh bằng năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo thay vì tìm cách "mua gian bán lận", thao túng cán bộ để lấy dự án. Đây chính là giải pháp căn cơ để ngăn chặn mô hình tư bản thân hữu, bảo vệ sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
- Thưa ông, từ góc nhìn thể chế, ông kỳ vọng Quy định mới về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh sẽ tạo ra cú hích ra sao trong việc giải phóng toàn bộ năng lực sản xuất của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào sự liêm chính của đội ngũ cán bộ, đảng viên?
- Tầm nhìn thể chế của Quy định mới mang lại hai giá trị lớn. Đối với nền kinh tế, quy định cởi bỏ tâm lý e ngại, giải phóng triệt để tinh thần kinh doanh và nguồn lực tích lũy trong lực lượng đảng viên, tạo ra tầng lớp doanh nhân đảng viên tiên phong, kinh doanh liêm chính, tuân thủ pháp luật và có trách nhiệm xã hội cao.
Đối với công tác xây dựng Đảng, quy định thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc làm sạch bộ máy, kiểm soát hiệu quả quyền lực công, chặn đứng nguy cơ suy thoái về đạo đức và tư tưởng. Khi nhân dân thấy rõ sự phân định rạch ròi, cán bộ không thể lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính còn đảng viên bình thường được khuyến khích làm giàu hợp pháp, niềm tin vào sự liêm chính của Đảng sẽ được củng cố vững chắc. Đó chính là động lực tinh thần và vật chất to lớn để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ.
- Trân trọng cám ơn ông!
Những điểm đáng chú ý trong Quy định 224
Quy định số 224 khẳng định quyền sở hữu, quyền tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được pháp luật bảo vệ.
Quy định số 224 xác định quyền, giới hạn và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng phải tuân thủ các giới hạn tương ứng, bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ bí mật Nhà nước và bí mật công tác.
Đối với đảng viên trong khu vực công, Quy định 224 không cho phép sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư, kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích. Đảng viên không được đầu tư, kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực do mình trực tiếp quyết định, quản lý; đồng thời không để hoạt động đầu tư, kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Với đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, Quy định số 224 nêu rõ được làm và không phải xin chấp thuận với hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; Đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành. Tuy nhiên, đảng viên thuộc nhóm này không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát.
Với đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, các hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư, kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành được thực hiện mà không phải xin chấp thuận. Sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận, người không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh có quyền chi phối nhưng không tham gia quản lý, điều hành.
Với quy định không được làm, Quyết định 224 nêu rõ đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý không được đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối. Cán bộ, công chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành. Đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Về yêu cầu trong việc kiểm soát xung đột lợi ích, Quy định số 224 nêu rõ việc nhận diện, đánh giá xung đột lợi ích phải căn cứ vào mối liên hệ cụ thể giữa lợi ích kinh tế của đảng viên hoặc người có liên quan với chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc đảng viên thực hiện. Lợi ích được xem xét gồm lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích thực tế được thụ hưởng, không phụ thuộc vào người đứng tên sở hữu tài sản hoặc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.