Tín hiệu "sáng - tối" đan xen
Kể từ khi Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành vào tháng 5/2025, nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã nhanh chóng được thể chế hóa. Quốc hội và Chính phủ ban hành các nghị quyết, nghị định nhằm giảm chi phí gia nhập thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu.
Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), cho biết trọng tâm là chuyển hóa nhanh các định hướng lớn thành quy định áp dụng được ngay trong thực tiễn như: Các chính sách bãi bỏ lệ phí môn bài, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, mở rộng ưu đãi nghiên cứu – phát triển và hỗ trợ mặt bằng sản xuất.
Các số liệu cho thấy những chuyển động tích cực bước đầu. Năm 2025, bình quân mỗi tháng có hơn 18.000 doanh nghiệp thành lập mới và khoảng 12.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Sang năm 2026, xu hướng này tiếp tục, riêng tháng 5 có hơn 17.000 doanh nghiệp thành lập mới và 9.100 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.
Tuy nhiên, phía sau các con số tích cực là một thực tế đáng chú ý: Trong 5 tháng đầu năm 2026, có 129.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bình quân khoảng 25.900 doanh nghiệp mỗi tháng.
So với số doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại khoảng 28.500 doanh nghiệp/tháng, nền kinh tế chỉ tăng ròng khoảng 2.600 doanh nghiệp mỗi tháng.
TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), bức tranh hiện tại là sự đan xen giữa tín hiệu tích cực và xu hướng đáng lo ngại. Ông cho rằng cần nhìn vào các chỉ tiêu thực chất thay vì chỉ dựa trên số lượng doanh nghiệp mới.
Hiện Việt Nam có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 2 triệu doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi mỗi năm phải tăng thêm khoảng 200.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay lại đi ngược kỳ vọng.
Tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường so với số doanh nghiệp rút lui đã giảm mạnh theo thời gian. Nếu trước đây cứ 2 doanh nghiệp gia nhập thì có 1 doanh nghiệp rời đi, thì hiện nay con số này gần như xấp xỉ 1 đổi 1.
“Nếu xu hướng này tiếp diễn thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông Cung nhận định.
Điểm nghẽn nằm ở thực thi
Sau một năm triển khai, nhiều chuyên gia thống nhất rằng điểm nghẽn của Nghị quyết 68 không còn nằm ở chủ trương, mà tập trung ở khâu thực thi và môi trường kinh doanh.
TS Nguyễn Đình Cung cho rằng một chính sách cải cách nếu được thực hiện đúng cách hoàn toàn có thể tạo động lực lớn cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tư duy quản lý và cách thức triển khai vẫn chưa theo kịp yêu cầu cải cách. Nhiều nơi vẫn đặt nặng kiểm soát thay vì tạo thuận lợi.
Ông cũng chỉ ra rằng trong bối cảnh thu hút đầu tư, nhiều địa phương vẫn chạy theo số lượng vốn thay vì nâng cao chất lượng, chưa chú trọng yêu cầu chuyển giao công nghệ và gia tăng giá trị nội địa.
Ở góc độ thực thi, luật sư Nguyễn Thanh Hà (Công ty Luật SB LAW) chỉ ra điểm nghẽn ở sự thiếu đồng bộ trong triển khai, với thủ tục hành chính còn phức tạp, thanh tra chồng chéo và cách hiểu chính sách chưa thống nhất và tâm lý e ngại trách nhiệm trong bộ máy thực thi, khiến việc xử lý hồ sơ kéo dài.
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn và đất đai do điều kiện thực thi phức tạp”, ông Hà nói.
Trong khi đó, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng một điểm nghẽn khác nằm ở cách tiếp cận chính sách. Khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn bị xem là “đối tượng quản lý” thay vì đối tác phát triển. Các chính sách lại tập trung nhiều vào doanh nghiệp lớn, khiến hiệu ứng lan tỏa chưa đồng đều.
Ở góc nhìn vĩ mô, TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế cho rằng yếu tố cốt lõi là niềm tin thị trường. Theo ông, rào cản lớn nhất không phải chi phí, mà là sự thiếu ổn định và khó dự báo của môi trường pháp lý. Khi chính sách thay đổi thiếu nhất quán, doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp hoạt động hoặc chuyển dòng vốn sang các kênh an toàn.
Sự thận trọng của các doanh nghiệp cũng được ông Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) chỉ ra khi dẫn kết quả khảo sát của Ban IV cho thấy cứ 10 doanh nghiệp thì có khoảng 7 doanh nghiệp (70%) vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
Chìa khóa để bứt phá
Trước những điểm nghẽn nêu trên, các chuyên gia cho rằng trọng tâm trong giai đoạn tới không phải là ban hành thêm chính sách, mà là nâng cao hiệu quả thực thi.
TS Nguyễn Đình Cung đề xuất cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình thực thi, đồng thời rà soát và loại bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp. Trong nhiều lĩnh vực, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm để tạo dư địa cho doanh nghiệp chủ động đổi mới. Theo ông, môi trường kinh doanh chỉ thực sự cải thiện khi trở nên minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn.
Cần thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp đầu tàu và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng, qua đó nâng cao năng lực sản xuất, quản trị và khả năng tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao” TS Lê Duy Bình
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Minh nhấn mạnh cần rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận. Thay vì ban hành thêm ưu đãi mới, cần tập trung thực thi hiệu quả các chính sách hiện có, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, chuyển đổi hộ kinh doanh, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.
Ông Minh cho rằng hiệu quả cải cách cần được đo bằng mức giảm chi phí thực tế cho doanh nghiệp, thể hiện qua thủ tục đơn giản hơn và thời gian xử lý nhanh hơn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong thực thi giữa các địa phương.
TS Nguyễn Quốc Việt cho rằng giải pháp nền tảng là xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và có thể dự báo. Cùng với đó là tăng cường bảo vệ quyền tài sản và nâng cao hiệu quả hệ thống tư pháp, từ đó giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Trong khi đó, TS Lê Duy Bình nhấn mạnh cần khai thác dư địa lớn từ khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ. Việc tạo điều kiện để các đơn vị này chuyển đổi thành doanh nghiệp chính thức sẽ giúp mở rộng quy mô khu vực tư nhân.
TS Lê Duy Bình cũng đề xuất tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trong chuỗi cung ứng, qua đó nâng cao năng lực sản xuất và khả năng tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Theo ông Bình, khi nguồn lực được phân bổ rộng hơn và cơ hội tiếp cận thị trường được mở rộng cho số đông doanh nghiệp, các tác động tích cực từ Nghị quyết 68 mới có thể lan tỏa sâu rộng trong toàn bộ nền kinh tế.