Đưa ngân sách nghiên cứu vào những bài toán lớn
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Nafosted) liên tục công bố các chương trình tuyển chọn, đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, với nội dung bám sát những bài toán cụ thể của đất nước.
Đáng chú ý, bên cạnh các nhiệm vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, Nafosted dành sự quan tâm đáng kể cho các nhiệm vụ thuộc nhóm công nghệ chiến lược, hướng tới mục tiêu nghiên cứu, phát triển và làm chủ những công nghệ có tính nền tảng.
Mới đây, Nafosted thông báo tuyển chọn đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược “Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo chip thu phát vô tuyến cho UAV”. Trước đó, Nafosted công bố tuyển chọn đặt hàng nhiệm vụ “Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ đội robot di động tự hành ứng dụng trong vệ sinh môi trường đô thị”. Đây đều là những nhiệm vụ hướng tới các sản phẩm, công nghệ cụ thể, đặt yêu cầu làm chủ công nghệ thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu.
Cùng với công nghệ chiến lược, các nhiệm vụ đặt hàng của Nafosted cũng trải rộng sang nhiều lĩnh vực gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 17/10, quỹ công bố tuyển chọn đặt hàng nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng và thí điểm mô hình liên kết các chủ thể OCOP - trường đại học - doanh nghiệp - chính quyền trong nâng cấp chuỗi giá trị và phát triển thị trường sản phẩm OCOP tại một số địa phương miền Trung Việt Nam.
Đồng thời, Nafosted đặt hàng nghiên cứu nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng và thí điểm mô hình quản trị cấp xã hiệu quả trên nền tảng số gắn với phát triển năng lực đội ngũ cán bộ, công chức tại khu vực Bắc Trung Bộ”
Danh mục đặt hàng từ chip, robot tự hành đến quản trị số cấp xã và phát triển sản phẩm OCOP cho thấy Nafosted đang hướng nguồn lực vào những bài toán cụ thể của đất nước. Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu các nhiệm vụ không chỉ tạo ra công trình khoa học mà còn phải hướng tới sản phẩm, công nghệ và kết quả có giá trị thực tiễn.
PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Nafosted cho biết cơ chế mới tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp và nhà khoa học tập trung làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Thậm chí hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Một điểm đáng chú ý của cơ chế mới là nguồn lực tài chính được thiết kế theo mức độ ưu tiên, rủi ro và khả năng huy động nguồn lực của từng nhiệm vụ.
Đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng nhằm phát triển công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt đối với tự chủ công nghệ quốc gia, an ninh, quốc phòng hoặc các nhiệm vụ có độ rủi ro cao, ngân sách Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100%.
Đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa, ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa 70%; phần còn lại được huy động từ doanh nghiệp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Như vậy, tỷ lệ hỗ trợ không áp dụng cào bằng mà gắn với mục tiêu công nghệ, giai đoạn phát triển của sản phẩm, mức độ rủi ro và triển vọng tạo ra giá trị.
Đổi cách cấp tiền nghiên cứu, đo bằng kết quả
Cơ chế mới của Nafosted thể hiện 3 chuyển dịch quan trọng trong quản lý và sử dụng nguồn lực nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược: từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả; từ kiểm soát thủ tục sang quản trị theo các mốc đánh giá; từ tiền kiểm sang tự chủ gắn với hậu kiểm.
Theo đó, nhiệm vụ nghiên cứu được chia thành các gói công việc, gắn với sản phẩm và mốc đánh giá cụ thể. Kinh phí được phân bổ theo kết quả thực hiện từng gói. Nếu kết quả đạt yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục được cấp kinh phí để triển khai các bước tiếp theo; nếu không đạt, phương án nghiên cứu có thể được điều chỉnh hoặc dừng thực hiện. Cách làm này nhằm tập trung nguồn lực vào những hướng nghiên cứu có triển vọng và tính khả thi cao.
Song song với đổi mới phương thức quản lý, Nafosted đa dạng hóa hình thức tài trợ, từ tài trợ đề tài, nâng cao năng lực, hợp tác quốc tế đến đặt hàng, đồng tài trợ và tài trợ theo kết quả đầu ra. Các nội dung hỗ trợ cũng được mở rộng, bao gồm huấn luyện ngắn hạn, mời chuyên gia quốc tế, nghiên cứu kiểm chứng, đánh giá mức độ sẵn sàng công nghệ, nâng cấp và kết nối phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và cơ sở dữ liệu số.
Với cá nhân, quỹ có thể hỗ trợ tham dự, trình bày tại hội nghị quốc tế, công bố công trình, thực tập và nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài, hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và cơ chế tài trợ theo khối (block funding). Với các tổ chức khoa học, nội dung hỗ trợ gồm tổ chức hội thảo, phát triển tạp chí khoa học, truyền thông khoa học và mời nhà khoa học quốc tế.
Một thay đổi đáng chú ý khác là ngân sách nhà nước được cấp cho quỹ theo tổng mức, thay vì gắn sẵn với danh mục nhiệm vụ cụ thể ngay từ thời điểm giao dự toán. Trên cơ sở ngân sách được giao, Nafosted chủ động phân bổ, điều chỉnh kinh phí theo yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
Cơ chế mới trao quyền chủ động hơn cho tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro. Hiệu quả sử dụng ngân sách sẽ được đánh giá thông qua tiến độ, kết quả và tác động của nhiệm vụ.
Theo PGS.TS Đào Ngọc Chiến, nghiên cứu khoa học luôn chứa đựng yếu tố bất định. Việc quá chú trọng vào thành công tuyệt đối có thể khiến các nhà khoa học ngần ngại theo đuổi những ý tưởng táo bạo.
Cơ chế chấp nhận rủi ro có thể hiểu đơn giản là nếu nhà khoa học đã làm đúng quy trình, chi tiêu hợp lý, nỗ lực hết sức nhưng vì yếu tố khách quan mà đề tài không đạt kết quả cuối cùng, thì đó được xem là rủi ro trong nghiên cứu. Khi đó, kinh phí đã sử dụng hợp lý sẽ không phải thu hồi và nhà khoa học cũng không phải chịu các hình thức chế tài.
Theo ông, đây là thay đổi quan trọng về tư duy quản lý.
"Điều này sẽ khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn đề xuất những ý tưởng lớn, có tính đột phá, thậm chí là những ý tưởng 'xa tầm với'. Nếu chỉ hoạt động trong vòng an toàn thì sẽ không bao giờ có đột phá. Chấp nhận rủi ro có kiểm soát chính là tiền đề để tạo ra những thành tựu khoa học đỉnh cao", Giám đốc Nafosted nhấn mạnh.
Cùng với cơ chế chấp nhận rủi ro, Nafosted đang chuyển mạnh sang hậu kiểm và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Thay vì kiểm soát chi tiết từng hóa đơn, chứng từ như trước, trọng tâm quản lý sẽ là tiến độ, sản phẩm đầu ra, hiệu quả và tác động của nhiệm vụ.
Theo định hướng mới, Nafosted sẽ tăng cường liên kết Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp. Quỹ không chỉ chờ doanh nghiệp tìm đến nhà khoa học mà muốn chủ động đóng vai trò kết nối.
"Chúng tôi nhận thấy có nhiều doanh nghiệp có nhu cầu nhưng không biết tìm đến ai và nhiều Viện, Trường có tiềm năng nhưng chưa tìm được 'đầu ra'. Quỹ sẽ chủ động hơn nữa trong việc tạo cơ hội, thậm chí đi thúc đẩy việc kết nối giữa các bên", ông Chiến cho biết.
Việc chủ động kết nối Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp được kỳ vọng giúp các kết quả nghiên cứu tìm được địa chỉ ứng dụng phù hợp, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa.
Về định hướng ưu tiên tài trợ hợp tác quốc tế của quỹ, TS Nguyễn Phú Bình, Phó giám đốc Nafosted, cho biết trong giai đoạn tới, quỹ định vị rõ vai trò là "Cầu nối chiến lược" đưa khoa học Việt Nam hội nhập sâu với thế giới.
Nafosted đã thiết lập quan hệ với hơn 20 quốc gia, triển khai khoảng 200 nhiệm vụ hợp tác quốc tế và xây dựng mạng lưới khoảng 25 đối tác chiến lược. Không gian hợp tác được mở rộng theo nhiều tầng nấc: Từ các chương trình nghị định thư cấp Chính phủ, đến hợp tác song phương - đa phương giữa các quỹ, và các dự án chuyển giao công nghệ gắn với ứng dụng, thương mại hóa.
Các cơ chế tài trợ cũng được cải cách mạnh mẽ theo hướng chuẩn quốc tế: Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, mở rộng khoán chi, nâng cấp quản lý từ đề tài đơn lẻ sang chuỗi nhiệm vụ, số hóa toàn bộ quy trình và minh bạch hóa sở hữu trí tuệ; nhằm đảm bảo chất lượng hợp tác, từ định hướng quốc gia, cam kết đối tác đến năng lực thực thi và hiệu quả đầu ra. Đặc biệt, các lĩnh vực ưu tiên tập trung vào công nghệ cao và công nghệ chiến lược theo định hướng của Chính phủ, nhằm tạo ra những đột phá mang tính dẫn dắt.
Nafosted khuyến nghị cộng đồng khoa học cần chủ động tìm kiếm đối tác, xây dựng đề xuất song phương từ sớm; tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để nâng cao tính ứng dụng; tận dụng tối đa cơ chế khoán chi; chuyên nghiệp hóa quản trị nhóm nghiên cứu; số hóa 100% thích ứng ngay với quy trình quản lý trên nền tảng số.