Doanh nghiệp chưa thực sự tham gia vào nghiên cứu
Ngày 23/10, phát biểu khai mạc Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là mối liên kết giữa Nhà nước, các cơ sở nghiên cứu với cộng đồng doanh nghiệp và thị trường chưa chặt chẽ, chưa thực chất.
Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, thể hiện qua số lượng bằng sáng chế được cấp và mức đầu tư cho nghiên cứu. Giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp Việt Nam được cấp hơn 700 bằng sáng chế, trong khi doanh nghiệp nước ngoài được cấp khoảng 24.000 bằng, gấp khoảng 35 lần.
Nhiều đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ yêu cầu thực tế của nền kinh tế, nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Dẫn số liệu giai đoạn 2021-2025, Phó thủ tướng cho biết chỉ khoảng 12% nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia có sự tham gia của doanh nghiệp; ở địa phương, tỷ lệ này khoảng 11%. Trong khi đó, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia hình thành quỹ KH&CN để tài trợ nghiên cứu chỉ khoảng 6% trong năm 2023.
"Thực trạng này cho thấy doanh nghiệp còn hạn chế tham gia hoạt động nghiên cứu, nhiều kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng và thương mại hóa", ông Dũng nói.
Mức đầu tư cho R&D cũng phản ánh khoảng cách đáng kể. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp Việt Nam chỉ tương đương 0,3% GDP, trong khi tỷ lệ này tại Trung Quốc là 2,1% và Hàn Quốc là 4,2%.
Nhân lực nghiên cứu cũng phân bổ chưa cân đối giữa khu vực doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học. Theo số liệu được Phó thủ tướng dẫn tại Hội nghị, chỉ có 333 nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ làm việc trong doanh nghiệp, trong khi khoảng 21.000 người làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học.
Khoảng cách về bằng sáng chế và những hạn chế trong đầu tư, nhân lực nghiên cứu đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết giữa nghiên cứu và thị trường. Thực tế, trên hơn 20 sàn giao dịch KH&CN, có khoảng 62.000 công nghệ được chào bán nhưng chỉ có 750 nhà đầu tư, doanh nghiệp tìm hiểu và phát sinh 72 giao dịch.
Từ những số liệu trên, Phó thủ tướng đặt vấn đề, nếu tình trạng này kéo dài, sẽ khó phát huy KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng của đất nước.
Thiếu vốn thực, ngại rủi ro, yếu chuyển giao
Báo cáo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phân tích thực trạng, những điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.
Theo Thứ trưởng, hiệu quả mô hình liên kết "ba nhà" gồm Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp không thể chỉ đánh giá thông qua số lượng biên bản ghi nhớ hợp tác mà cần được đo lường bằng cơ chế phân chia lợi ích, dòng tiền và trách nhiệm cụ thể của các bên.
Giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp chủ trì 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, chiếm 12,5% về số lượng và 25,7% về kinh phí. Tỷ lệ nhiệm vụ cấp địa phương có doanh nghiệp liên kết, đối ứng vốn đạt khoảng 21%; một số địa phương đạt tỷ lệ cao như An Giang 53%, Gia Lai 47% và Hà Nội 40%.
Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), Việt Nam xếp thứ 24 trong số 133 quốc gia, nền kinh tế về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa trường đại học với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mức đầu tư R&D của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nguồn nhân lực nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
Bộ KH&CN xác định 7 điểm nghẽn chủ yếu trong liên kết viện, trường với doanh nghiệp.
Thứ nhất, hoạt động nghiên cứu chưa bám sát nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu thương mại hóa.
Thứ hai, vốn đối ứng của doanh nghiệp phần lớn mới dừng ở cam kết, chưa được hiện thực hóa đầy đủ.
Thứ ba, các viện nghiên cứu, trường đại học còn lo ngại rủi ro thanh tra, kiểm toán trong quá trình định giá, góp vốn bằng tài sản công và khai thác kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, thiếu các văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp (TTO), làm hạn chế khả năng kết nối kết quả nghiên cứu với nhu cầu thị trường.
Thứ năm, động lực đổi mới sáng tạo và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn yếu. Theo báo cáo, chưa đến 28% doanh nghiệp lớn có bộ phận R&D.
Thứ sáu, thiếu chính sách mua sắm công hỗ trợ sản phẩm mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên (First Buyer), tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm KH&CN.
Thứ bảy, việc phân bổ ngân sách chưa gắn chặt với kết quả hợp tác, trong khi hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) của nhà khoa học và doanh nghiệp chưa đồng bộ.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Bộ KH&CN đề xuất triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ cuối năm 2026, trong đó chú trọng hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả liên kết, phát triển nhân lực nghiên cứu và thúc đẩy thương mại hóa kết quả KH&CN.
Trước hết, Bộ đề xuất xây dựng bộ 10 chỉ số đánh giá mức độ liên kết, dự kiến đưa vào Sách trắng KH&CN từ năm 2027, làm cơ sở chuẩn hóa việc đo lường kết quả và hiệu quả hợp tác giữa viện, trường với doanh nghiệp.
Về phát triển nhân lực, Bộ đề xuất quy định chính thức cơ chế luân chuyển, công nhận thời gian giảng viên làm việc tại doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy phát triển mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu (spin-off).
Cùng với đó, Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước được định hướng phát huy vai trò kiến tạo, chia sẻ rủi ro, tiên phong trở thành khách hàng đầu tiên đối với các sản phẩm công nghệ mới, góp phần hình thành thị trường và đẩy nhanh quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.