LTS: Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh (Quy định 224), thay thế Quy định số 15-QĐ/TW năm 2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân (Quy định 15), đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong tư duy quản lý hoạt động kinh tế của đảng viên. Quy định mới hướng tới mở rộng quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp, đồng thời đặt ra những yêu cầu chặt chẽ về kiểm soát xung đột lợi ích, ngăn chặn việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn và nguồn lực công để trục lợi.
Việc đưa quy định vào thực tiễn đặt ra yêu cầu phân định rõ quyền kinh doanh của đảng viên với trách nhiệm kiểm soát quyền lực công, bảo đảm tính minh bạch và liêm chính. Đâu là những ranh giới cần được xác lập, cơ chế nào có thể ngăn ngừa lợi ích nhóm và làm thế nào để chính sách thực sự khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân? Mời bạn đón đọc tuyến bài Đột phá mới đảng viên làm kinh tế.
Bài 1: Hàng rào kỹ thuật nào cho đảng viên quan chức làm kinh tế?
Trả lời phỏng vấn VietTimes, TS Nguyễn Hoàng Hiệp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng (IIB), phân tích cách dữ liệu liên thông và các công cụ quản trị số giúp nhận diện sớm nguy cơ xung đột lợi ích, nâng cao hiệu quả giám sát, tạo cơ sở minh bạch để bảo vệ đảng viên kinh doanh đúng quy định, dám nghĩ, dám làm.
Cơ hội và thách thức từ nền kinh tế số
- Thưa TS Nguyễn Hoàng Hiệp, Quy định 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế chuyển mạnh sang kinh tế số. Dưới góc độ nghiên cứu của ông, các hình thức đầu tư số như chứng khoán điện tử, tài sản số, kinh doanh trên nền tảng đặt ra những cơ hội và thách thức gì cho công tác quản lý?
- Theo định hướng của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Đảng viên làm kinh tế cần nêu gương tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động. Tuy nhiên, người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng nhấn mạnh phải kiểm soát xung đột lợi ích phải làm rõ người thực sự chi phối, hưởng lợi; ngăn việc dùng chức vụ, thông tin, nguồn lực công để vụ lợi hoặc tạo đặc quyền từ tư cách đảng viên.
Muốn giữ được cả hai vế ấy trong nền kinh tế số, cách quản lý phải thay đổi. Về cơ hội, môi trường số giúp đảng viên phát huy tri thức, năng lực quản trị và nguồn vốn chính đáng mà không cần mặt bằng hay bộ máy cồng kềnh. Giao dịch số lại luôn để lại dấu vết dữ liệu nên về bản chất dễ minh bạch hơn tiền mặt.
Thách thức là tài sản số, giao dịch xuyên biên giới, tài chính phi tập trung và các cấu trúc đầu tư đa tầng khiến việc nhận diện dòng tiền, quyền sở hữu thực khó hơn nhiều. Quản lý bằng giấy tờ, báo cáo định kỳ sẽ luôn đi sau thực tế. Lời giải là chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu, vừa mở không gian đổi mới sáng tạo, vừa giữ vững kỷ cương của Đảng.
- Quan ngại lớn nhất khi đảng viên làm kinh tế là nguy cơ doanh nghiệp “sân sau” và xung đột lợi ích. Dữ liệu liên thông (định danh điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, doanh nghiệp) giúp phát hiện, cảnh báo sớm các quan hệ này như thế nào?
- “Sân sau” thường được che giấu qua quan hệ thân nhân, nhờ người đứng tên hoặc sở hữu chéo; dữ liệu chính là chìa khóa để giải bài toán hóc búa này.
Khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử VNeID và dữ liệu đăng ký doanh nghiệp (gồm cả chủ sở hữu hưởng lợi), thuế, đất đai, đấu thầu được kết nối, công nghệ phân tích đồ thị (Graph Analytics) có thể dựng lại mạng lưới quan hệ giữa người có chức vụ, quyền hạn với chủ doanh nghiệp.
Hệ thống sẽ khoanh vùng dấu hiệu bất thường: doanh nghiệp lập ngay trước khi dự án được phê duyệt, trùng địa chỉ, dòng tiền luân chuyển giữa các tài khoản liên quan. Công tác kiểm tra nhờ đó chuyển từ “hậu kiểm” thụ động sang cảnh báo sớm, ngăn ngừa vi phạm từ sớm, từ xa.
Có hai điều kiện. Một là dữ liệu phải thực sự liên thông; nếu mỗi hệ thống vẫn là một “ốc đảo” thì có công nghệ mà chưa có năng lực số. Hai là cảnh báo của thuật toán chỉ là tín hiệu để con người xác minh, không phải kết luận, vì rủi ro thiên lệch thuật toán là có thật.
Dữ liệu, bằng chứng số chính là “lá chắn” bảo vệ đảng viên dám nghĩ, dám làm
- Kê khai tài sản, thu nhập hiện vẫn thủ công, định kỳ. Theo ông, dùng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) để theo dõi liên tục biến động tài sản, dòng tiền đầu tư của cán bộ, đảng viên có khả thi không?
- Kê khai bằng bản giấy, định kỳ hằng năm đã lạc hậu: tốn chi phí mà hiệu quả giám sát chưa cao. Ứng dụng AI và big data hoàn toàn khả thi về kỹ thuật. Khi đảng viên mua bán bất động sản, giao dịch cổ phiếu hay góp vốn, dữ liệu từ ngân hàng, cơ quan đất đai, chứng khoán có thể được đối soát tự động với hồ sơ kê khai. Tài sản tăng đột biến, không tương xứng với thu nhập hợp pháp sẽ được gắn cờ để tổ chức rà soát.
Tuy nhiên, tôi luôn cho rằng chuyển đổi số là bài toán về mô hình vận hành chứ không phải bài toán công nghệ. Nếu chỉ đưa tờ khai giấy lên mạng, tức làm nhanh hơn một việc cũ, hiệu quả sẽ không đáng kể.
Phải thiết kế lại quy trình: dữ liệu nào tự động cập nhật, ai xử lý cảnh báo, trong bao lâu. Điểm nghẽn thật sự nằm ở con người và khung pháp lý: cán bộ kiểm tra cần được đào tạo năng lực số, còn việc truy cập dữ liệu tài chính cá nhân phải có căn cứ pháp luật rõ ràng.
- Đầu tư nào cũng có rủi ro. Để bảo vệ đảng viên làm kinh tế chân chính, Viện IIB gợi ý “Khung quản trị rủi ro số” (Digital Risk Governance Framework) như thế nào nhằm phân định rủi ro thị trường hợp pháp với hành vi vi phạm quy định của Đảng?
- E ngại lớn nhất của đảng viên là ranh giới mơ hồ giữa thua lỗ do rủi ro thị trường và vi phạm do cố ý làm trái. Khung quản trị rủi ro số mà chúng tôi đề xuất gồm ba lớp.
Thứ nhất, lưu vết toàn bộ quá trình ra quyết định: hồ sơ thẩm định, định giá, quyết định góp vốn, phê duyệt dự án đều có nhật ký số không thể sửa đổi (immutable audit trail).
Thứ hai, phân loại rủi ro ngay từ đầu, công bố rõ việc được làm, không được làm và các tình huống phải báo cáo xung đột lợi ích.
Thứ ba, khi doanh nghiệp thua lỗ, cơ quan kiểm tra truy xuất dữ liệu lịch sử để đánh giá khách quan: thất bại do biến động thị trường hay do vi phạm quy định.
Trong quản trị doanh nghiệp, tôi vẫn khuyến nghị dám thử nghiệm và chấp nhận sai sót có kiểm soát. Nguyên tắc ấy cũng đúng ở đây: với người làm đúng quy trình và minh bạch dữ liệu, bằng chứng số chính là “lá chắn” bảo vệ, giúp họ yên tâm dám nghĩ, dám làm.
Dữ liệu liên thông và các công cụ quản trị số có thể hỗ trợ nhận diện sớm nguy cơ xung đột lợi ích, nâng cao hiệu quả giám sát. Ảnh minh họa: AI.
Doanh nghiệp tiên phong và hệ sinh thái dữ liệu giám sát
- Đảng viên tham gia kinh doanh mang theo tri thức và năng lực quản trị. Làm thế nào để doanh nghiệp do đảng viên đầu tư trở thành lực lượng tiên phong trong chuyển đổi số và phát triển kinh tế số quốc gia?
- Doanh nghiệp của đảng viên cần đi đầu, nhưng tiên phong không có nghĩa là mua công nghệ đắt tiền nhất. Phần mềm tự nó không tạo ra giá trị; giá trị chỉ đến khi doanh nghiệp thay đổi cách làm việc, cách phân quyền và cách ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Tôi gợi ý bốn việc: kết nối các phần mềm rời rạc thành một dòng dữ liệu thống nhất (ERP); đầu tư đào tạo con người song song với hạ tầng; ứng dụng AI vào hoạt động chính, nơi đã có dữ liệu và đo được kết quả, thay vì các dự án trình diễn; gắn chuyển đổi số với chuẩn mực ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị). Người đứng đầu phải trực tiếp dẫn dắt, không thể khoán trắng cho phòng công nghệ thông tin.
Định hướng đánh giá đảng viên làm kinh tế qua năng suất, đổi mới và nghĩa vụ về thuế, tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động, môi trường cũng rất thuận cho quản trị số, vì đó đều là tiêu chí đo được bằng dữ liệu. Doanh nghiệp làm bài bản sẽ thành hình mẫu, lan tỏa chuẩn quản trị minh bạch ra khu vực tư nhân.
- Với cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng, Viện IIB đề xuất kiến trúc “Hệ sinh thái dữ liệu giám sát” ra sao để vừa bảo mật thông tin cá nhân của đảng viên, vừa đáp ứng yêu cầu minh bạch của tổ chức?
- Cũng như xây nhà phải có bản vẽ, hệ sinh thái này cần thiết kế tổng thể trước khi mua sắm công nghệ: dữ liệu nào, của ai, chuẩn kết nối ra sao, ai được xem gì.
Kiến trúc chúng tôi hướng tới dựa trên ba nguyên tắc. Một là phân quyền nghiêm ngặt: dữ liệu vẫn nằm tại cơ quan quản lý gốc, được mã hóa và chỉ truy xuất chi tiết khi có quyết định kiểm tra chính thức theo quy trình của Đảng.
Hai là thường ngày hệ thống chỉ chạy thuật toán trên dữ liệu ẩn danh để đưa ra chỉ số rủi ro tổng thể; công nghệ tính toán bảo vệ quyền riêng tư (Privacy-preserving Computing) cho phép xác minh kê khai mà không lộ thông tin đời tư.
Ba là mọi lượt truy cập đều được ghi nhật ký, tức giám sát cả người giám sát.
Kết nối càng sâu thì nguy cơ bị tấn công càng lớn, nên an ninh mạng phải được đầu tư ngay từ đầu, tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cân bằng được minh bạch của tổ chức với quyền riêng tư của cá nhân thì hệ thống mới có được sự đồng thuận của cán bộ, đảng viên.
RegTech, tư duy quản trị số và văn hóa minh bạch dữ liệu
- Công nghệ quản lý, tuân thủ quy định (RegTech - Regulatory Technology) đang là xu hướng toàn cầu. Ông đề xuất gì để đưa RegTech vào quá trình thể chế hóa quy định mới, giúp chính sách đi vào cuộc sống chính xác, giảm thủ tục giấy tờ?
- RegTech, tức ứng dụng công nghệ để quản lý và thực thi quy định, giúp chủ trương của Trung ương đi vào cuộc sống nhanh và chính xác hơn. Quy định mới được định hướng phải ngắn gọn, nêu rõ phạm vi được làm và không được làm.
Văn bản như vậy rất thuận lợi để “mã hóa” thành quy tắc trên nền tảng số (Rules as Code): điều kiện đầu tư, ngành nghề bị cấm hoặc hạn chế theo chức vụ, quy trình báo cáo xung đột lợi ích. Khi đó, đảng viên tự kiểm tra được tính tuân thủ ngay trên nền tảng trước khi góp vốn, mua cổ phần; cơ quan quản lý theo dõi tình hình thực thi gần như theo thời gian thực. Thủ tục giấy tờ, cơ chế xin - cho sẽ giảm rõ rệt.
Tôi đề xuất thí điểm ở một số địa phương, lĩnh vực, đo lường kết quả rồi mới nhân rộng. Hệ thống phải đủ tiện lợi để người dùng tự nguyện sử dụng, bởi nền tảng triển khai xong mà không ai dùng thì coi như thất bại. Song song, cần hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu và AI, sao cho quyền của chủ thể dữ liệu được bảo vệ mà đổi mới sáng tạo không bị bó hẹp.
- Trong kỷ nguyên số, minh bạch không còn là áp lực mà là lợi thế cạnh tranh. Ông có lời khuyên gì về “tư duy quản trị số” và “văn hóa minh bạch dữ liệu” cho đảng viên đang và sắp bước vào con đường đầu tư, kinh doanh?
- Thông điệp quan trọng nhất là thay đổi tư duy: minh bạch dữ liệu không phải rào cản hay áp lực giám sát, mà là tài sản và lợi thế cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp. Xây dựng niềm tin đã tốn công, nhưng đánh mất rồi gây dựng lại còn tốn kém hơn nhiều.
Tư duy quản trị số, theo tôi, gồm ba điểm.
Một là ra quyết định dựa trên dữ liệu chứ không theo cảm tính hay quan hệ.
Hai là chủ động số hóa quy trình, lưu trữ dữ liệu chuẩn xác để sẵn sàng giải trình bất cứ lúc nào.
Ba là người đứng đầu tự mình tiên phong, đặt chuyển đổi số vào trung tâm chiến lược, đi cùng việc nâng năng lực đội ngũ và trách nhiệm với xã hội, trước hết là với người lao động.
Khi đảng viên kinh doanh bằng tri thức, đạo đức và sự minh bạch, coi tuân thủ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là nền tảng phát triển bền vững, họ không chỉ thành công cho mình mà còn góp phần xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, giàu sức cạnh tranh cho đất nước.
-Xin cám ơn ông!
Những điểm đáng chú ý trong Quy định 224
Quy định số 224 khẳng định quyền sở hữu, quyền tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được pháp luật bảo vệ.
Quy định số 224 xác định quyền, giới hạn và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng phải tuân thủ các giới hạn tương ứng, bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ bí mật Nhà nước và bí mật công tác.
Đối với đảng viên trong khu vực công, Quy định 224 không cho phép sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư, kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích. Đảng viên không được đầu tư, kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực do mình trực tiếp quyết định, quản lý; đồng thời không để hoạt động đầu tư, kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Với đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, Quy định số 224 nêu rõ được làm và không phải xin chấp thuận với hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; Đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành. Tuy nhiên, đảng viên thuộc nhóm này không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát.
Với đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, các hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư, kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành được thực hiện mà không phải xin chấp thuận. Sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận, người không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh có quyền chi phối nhưng không tham gia quản lý, điều hành.
Với quy định không được làm, Quyết định 224 nêu rõ đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý không được đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối. Cán bộ, công chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành. Đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Về yêu cầu trong việc kiểm soát xung đột lợi ích, Quy định số 224 nêu rõ việc nhận diện, đánh giá xung đột lợi ích phải căn cứ vào mối liên hệ cụ thể giữa lợi ích kinh tế của đảng viên hoặc người có liên quan với chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và công việc đảng viên thực hiện. Lợi ích được xem xét gồm lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích thực tế được thụ hưởng, không phụ thuộc vào người đứng tên sở hữu tài sản hoặc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.