Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Hội nghị diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, chuẩn bị kế hoạch năm 2027 và những năm tiếp theo. Biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước, mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyết tâm hành động.
"Muốn nắm bắt thời cơ, phải có tư duy chiến lược, tính chủ động để phân tích tình hình, đưa ra quyết sách đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả. Điều đặc biệt quan trọng là sự đồng lòng, ủng hộ của Nhân dân", Tổng bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn. Hội nghị Trung ương 2 đã quyết định các vấn đề quan trọng về tổ chức, cán bộ và quy định nền tảng của Đảng cho nhiệm kỳ mới.
Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội bằng những chủ trương lớn về xây dựng Đảng, mô hình phát triển và các chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Hội nghị lần này vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách đó, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Theo Tổng bí thư, Chủ tịch nước, yêu cầu bao trùm là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, quy tụ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục tiêu phát triển.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước nêu rõ, những vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, cầm quyền; cán bộ, nguồn lực và phát triển kinh tế - xã hội cần được xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với nhau: Đảng định hướng đúng. Hệ thống chính trị, guồng máy hành chính vận hành hiệu quả. Tiềm năng, sức lực con người được phát huy. Nhân dân được thụ hưởng thành quả. Gắn nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn lâu dài.
Tổng kết công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sau 15 năm
Tổng bí thư, Chủ tịch nước gợi mở 4 trọng tâm mà Hội nghị Trung ương 4 cần tập trung giải quyết.
Thứ nhất nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và định hướng phát triển đất nước của Đảng.
Năng lực lãnh đạo của Đảng được bồi đắp từ sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khả năng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Tổng kết 15 năm thực hiện nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần làm rõ: những chuyển biến trong tổ chức, xây dựng Đảng đã nâng cao chất lượng lãnh đạo, khả năng giải quyết các vấn đề phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân đến đâu? Các tổ chức Đảng và Đảng viên mạnh lên, trưởng thành lên ở những lĩnh vực nào? lĩnh vực nào cần khắc phục.
Trung ương cần nhìn thẳng vào những hạn chế kéo dài: vì sao tồn tại, khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa; vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn; có nội dung đúng quy trình mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc, hiệu quả thấp. Các Nghị quyết mới phải xử lý căn nguyên, xác định trách nhiệm, kể cả trách nhiệm của cơ quan lãnh đạo, tham mưu ở Trung ương.
Nghị quyết mới phải kết hợp chặt chẽ xây dựng với chỉnh đốn, giáo dục. Phòng ngừa với xử lý nghiêm minh. Hình thành cơ chế để tổ chức đảng, từng đảng viên tự phát hiện, tự sửa chữa khuyết điểm. Xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh phải thể hiện ở sự liêm chính, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng và trách nhiệm trước Nhân dân.
Các đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 40 năm thực hiện Cương lĩnh và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng cần được đặt trong yêu cầu chuẩn bị nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Tổng kết phải lý giải được thành công, hạn chế, khuyết điểm và những vấn đề mới về con đường phát triển đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng. Tầm nhìn 2030–2130 cần xác định những giá trị phải giữ vững, năng lực cần tích lũy và trách nhiệm với các thế hệ sau; không biến tầm nhìn dài hạn thành dự báo cứng nhắc.
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ phải gắn với các tổng kết nêu trên. Giữ vững nguyên tắc nền tảng, làm rõ yêu cầu mới về tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực...
Thứ hai là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền để nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị.
Mô hình tổ chức thay đổi đòi hỏi hoàn thiện đồng bộ phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Không thể chỉ sắp xếp lại bộ máy mà giữ nguyên cách làm việc không còn phù hợp. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải bảo đảm thống nhất về định hướng, phân định rõ trách nhiệm, phát huy đầy đủ thẩm quyền và tính chủ động của từng cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị.
Sơ kết Nghị quyết số 28 cần làm rõ phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải đổi mới như thế nào để quyết sách có chất lượng hơn, bộ máy chủ động hơn, công việc được giải quyết tốt hơn. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ phải vận hành thực chất, khắc phục bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo và xin ý kiến nhiều vòng đối với việc thuộc thẩm quyền.
Đảng lãnh đạo toàn diện bằng đường lối, định hướng chiến lược, công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu. Phải phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền của cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Trung ương quyết định những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa lâu dài; cơ quan được giao thẩm quyền chủ động cụ thể hóa và chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai thực hiện.
Chất lượng lãnh đạo phải được nâng lên từ phát hiện vấn đề, dự báo, lựa chọn phương án đến quyết định, kiểm tra và điều chỉnh. Cần làm rõ cách khắc phục tình trạng nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến. Dữ liệu, công nghệ phải giúp tham mưu chính xác, nhận diện sớm nguy cơ; không thay thế trách nhiệm của tổ chức và người quyết định.
Phân cấp, phân quyền phải tạo năng lực hành động thực tế trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trung ương cần làm rõ quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện thực hiện; cơ chế giải quyết việc liên ngành, liên cấp, vượt khả năng cơ sở. Không chuyển việc xuống dưới khi thiếu người, thiếu nguồn lực; không can thiệp làm mất quyền chủ động đã giao. Trách nhiệm tập thể và cá nhân phải được phân định, không chồng lấn hoặc thay thế nhau.
Việc thay thế Quy định số 21 cần bảo đảm thống nhất về tổ chức đảng, thẩm quyền thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại kỷ luật và quy trình thực hiện, phù hợp với mô hình mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, phát hiện sớm sơ hở, kiểm soát cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm...
Đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển
Thứ ba, đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Quyết sách chỉ trở thành hiện thực khi có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và trách nhiệm thực hiện.
Tổng kết Nghị quyết số 26 phải mở ra bước phát triển mới trong công tác cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ từ yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển lâu dài. Cần quản lý đội ngũ thống nhất, liên thông; gắn nhiệm vụ chính trị, vị trí việc làm với tạo nguồn, đào tạo, đánh giá, bố trí và sàng lọc; khắc phục chia cắt theo từng khâu, từng cấp, từng nhiệm kỳ.
Đánh giá cán bộ phải nhận diện được phẩm chất, thực tài, uy tín và triển vọng qua công việc, nhất là cách xử lý việc khó. Kết quả phải đặt trong tương quan với thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện; không lấy thành tích bù trừ vi phạm về chính trị, đạo đức, liêm chính. Cần làm rõ cơ chế để đánh giá dẫn đến sử dụng đúng, giao việc xứng đáng hoặc thay thế kịp thời, làm rõ trách nhiệm của người đánh giá, giới thiệu, quyết định đối với cả kết quả và hệ quả của việc bố trí cán bộ.
Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, tư duy hệ thống, năng lực lựa chọn và tổ chức thực hiện những quyết sách lớn; cán bộ cơ sở phải nắm chắc địa bàn, có năng lực giải quyết công việc và phục vụ Nhân dân. Người đứng đầu phải biết phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, phát huy trí tuệ tập thể và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn.
Cần làm rõ cơ chế phát hiện, thu hút nguồn cán bộ từ khu vực ngoài nhà nước và người Việt Nam ở nước ngoài; chuẩn bị nguồn cán bộ mở, nhiều lớp, nhiều phương án; tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật. Phát triển tương xứng cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia chuyên môn sâu; coi trọng tiêu chuẩn thực chất, điều kiện thực hiện ở cơ sở, tránh cơ cấu hình thức.
Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài...
Thứ tư, xác định đúng ưu tiên, phát huy hiệu quả nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững.
Tình hình kinh tế – xã hội năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, GDP trong 9 tháng của cả nước đạt hơn 9%, trong đó có 12/34 tỉnh, thành đạt trên 10%. Tuy nhiên, dư địa điều hành vĩ mô đang bị thu hẹp.
Đề nghị Trung ương đánh giá kết quả toàn diện năm 2026, làm rõ mức độ hoàn thành các mục tiêu và nền tảng tăng trưởng cho những năm tiếp theo. Cần xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống Nhân dân...
Năm 2027 phải tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ.
Trung ương cần làm rõ đâu là những khâu đột phá để chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất, kinh doanh và kết quả phát triển thực chất? Cần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng, nhân lực; khơi thông đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp, củng cố sức mua, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và nâng giá trị gia tăng trong nước. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành nguồn tăng năng suất. Nguồn lực công phải tạo sức lan tỏa, thu hút đầu tư xã hội và lợi ích thiết thực cho Nhân dân. Phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ cần tạo điều kiện cho tăng trưởng, giữ vững ổn định; lựa chọn đúng ưu tiên, xác định rõ lộ trình và trách nhiệm thực hiện.
Theo Tổng bí thư, Chủ tịch nước, 4 trọng tâm trên cùng hướng tới một yêu cầu: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đủ sức lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển, phát huy sự tham gia và sức sáng tạo của toàn dân. Trong quá trình xem xét các nội dung của chương trình, đề nghị Trung ương tập trung làm rõ 4 vấn đề xuyên suốt.
Trước hết, mỗi đề án phải xác định đúng những vấn đề cần giải quyết. Vướng ở chủ trương, thể chế hay ở tổ chức thực hiện, phối hợp và trách nhiệm cá nhân? Vì sao quy định đã sửa, nguồn lực đã giao mà công việc vẫn chậm? Phân biệt rõ bất cập của chủ trương với yếu kém trong thực hiện; bảo đảm các quyết sách thống nhất, không tháo gỡ ở lĩnh vực này lại tạo rào cản ở lĩnh vực khác.
Thứ hai, các chủ trương, định hướng lớn đã xác định phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thi hành hiệu quả. Cần sửa luật, chính sách nào; cơ quan nào chủ trì, thời hạn nào hoàn thành? Không để lợi ích cục bộ, thủ tục phát sinh làm thu hẹp chủ trương. Trách nhiệm phải gắn với chất lượng, tiến độ thể chế hóa và kết quả thi hành.
Thứ ba, phải bảo đảm con người, thẩm quyền và nguồn lực ngay khi quyết định.
Thứ tư, mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn. Vấn đề nào được giải quyết, nguồn lực nào được khơi thông, Nhân dân được hưởng lợi gì? Mọi kết quả phải đảm bảo tính hiệu quả. Nhiệm vụ trước mắt phải gắn với kế hoạch, ngân sách năm 2027; nghiên cứu dài hạn phải rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm.