close Đăng nhập

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”: Điểm nghẽn nào cần gỡ trước?

Tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”, cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và chuyên gia sẽ tập trung nhận diện những điểm nghẽn đang cản trở quá trình chuyển đổi số và tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ.

Sáng nay 24/9, tại Khách sạn Hòa Bình (Hà Nội), Hội Truyền thông số Việt Nam và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”.

Tọa đàm diễn ra trong khuôn khổ chuỗi hoạt động hướng tới Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – VDA lần thứ 9 năm 2026, dự kiến diễn ra vào trung tuần tháng 10/2026, đồng thời hưởng ứng chiến dịch 100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong chuyển đổi số.

4h6a5934.jpg
Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” được Hội Truyền thông số Việt Nam và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức.

Theo đó, tọa đàm sẽ tập trung nhận diện những điểm nghẽn đang cản trở quá trình chuyển đổi số và tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ từ góc nhìn cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và chuyên gia.

Mở đầu là tham luận “Những điểm nghẽn đang cản trở chuyển đổi số quốc gia và giải pháp xử lý”, lãnh đạo Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) phân tích một loạt điểm nghẽn lớn và đề xuất một số giải pháp trọng tâm để tháo gỡ các điểm nghẽn.

Tiếp đó, từ góc nhìn của lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng, quản lý và khai thác các hệ thống dữ liệu phục vụ chuyển đổi số quốc gia, lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) – Bộ Công an trình bày tham luận về phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID.

Ở góc nhìn địa phương, lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, sẽ chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai chuyển đổi số tại địa phương.

Sau phần tham luận, tọa đàm chuyển sang diễn đàn mở. Các đại biểu từ Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và giới chuyên gia sẽ thảo luận theo từng vòng đối thoại chuyên đề, tập trung vào các vấn đề then chốt như thể chế, dữ liệu, vai trò doanh nghiệp, ứng dụng AI và cách đo lường hiệu quả chuyển đổi số.

Ban Tổ chức cho biết toàn bộ ý kiến, kiến nghị tại tọa đàm sẽ được tổng hợp thành báo cáo khuyến nghị chính sách gửi các cơ quan chức năng, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Các bộ, ban, ngành chọn điểm nào để gỡ trước trong chiến dịch 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn?"

"Điểm nghẽn thì rất nhiều. 100 ngày vừa rồi, các bộ, ban, ngành chọn điểm nào để gỡ và đã gỡ được gì?", ông Nguyễn Bá Kiên đặt câu hỏi.

1790220064036-862273781835288496-g3559095187975562787-215280e58791e1937d52b35ad44f0215.jpg
Ông Nguyễn Bá Kiên đặt câu hỏi với các khách mời tham gia diễn đàn mở.

Hà Nội tháo gỡ các điểm nghẽn liên quan đến dữ liệu, kinh tế số và xã hội số

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết trong chiến dịch 100 ngày, Hà Nội đã bám sát kế hoạch và tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn liên quan đến dữ liệu, kinh tế số và xã hội số.

Theo đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, thành phố đã khảo sát, đánh giá về dữ liệu từ trước, còn chiến dịch 100 ngày tạo thêm động lực để triển khai quyết liệt hơn. Một trong những vấn đề được Hà Nội xác định là hạ tầng dữ liệu. Nếu không có hạ tầng đủ năng lực để các đơn vị xây dựng, lưu trữ và khai thác dữ liệu thì rất khó triển khai hiệu quả.

“Hà Nội có cách làm khác với một số địa phương và dữ liệu của Hà Nội có tính cởi mở. Nếu trước đây dữ liệu chưa được nhìn nhận đầy đủ thì hiện nay dữ liệu được xác định là một loại tài nguyên, cần được khai thác, chia sẻ để phục vụ phát triển xã hội và kinh tế số”, đại diện Sở nói.

Theo đó, Hà Nội đặt vấn đề phát triển hạ tầng theo hướng tăng tính tự chủ của địa phương, trong đó dữ liệu nên được tổ chức theo hướng phân tán thay vì tập trung toàn bộ. Việc phân định rõ trách nhiệm quản lý dữ liệu tại địa phương sẽ thuận lợi hơn trong quá trình cập nhật, khai thác và chia sẻ dữ liệu.

Một nhiệm vụ được Hà Nội đặt ra là nâng cấp, mở rộng trung tâm dữ liệu của thành phố; đồng thời rà soát, xây dựng lại các cơ sở dữ liệu dùng chung. Các cơ sở dữ liệu hiện nằm ở nhiều sở, ngành, địa phương, phường, xã và cần được tổ chức, kết nối thống nhất.

“Toàn bộ hệ thống phát sinh dữ liệu, phát sinh trường thông tin sẽ được lưu trữ, quản lý để phục vụ khai thác, sử dụng”, đại diện Sở cho biết.

Trong đó, dữ liệu kinh doanh được xác định là một nguồn dữ liệu quan trọng, liên quan trực tiếp đến hoạt động cấp phép và giải quyết thủ tục hành chính. Nếu dữ liệu này được kết nối, tái sử dụng, người dân sẽ không phải nhiều lần cung cấp hoặc chứng thực những giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có.

Hà Nội đang triển khai đưa toàn bộ dữ liệu đăng ký kinh doanh vào kho dữ liệu của thành phố, đồng thời cho phép chia sẻ để các hệ thống khác khai thác theo quy định. Theo đại diện Sở, đây là một trong những cách thành phố xử lý điểm nghẽn về tái sử dụng dữ liệu, đồng thời giảm yêu cầu người dân phải nộp lại giấy tờ.

Một vấn đề khác được Hà Nội đặt ra là tâm lý e ngại của cán bộ trong việc khai thác, sử dụng dữ liệu đã được chia sẻ. Theo đại diện Sở, nguyên nhân một phần đến từ việc cán bộ vẫn phải xác nhận lại thông tin khi sử dụng dữ liệu. Do đó, cần có cơ chế xác thực, phân định trách nhiệm rõ ràng để cán bộ yên tâm khai thác dữ liệu.

Đại diện Sở cũng cho rằng cần làm rõ trách nhiệm và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành với địa phương. Dữ liệu do địa phương tạo lập cần được trả về địa phương để phục vụ công tác quản lý, thay vì chỉ tập trung ở hệ thống của cơ quan cấp trên.

Bên cạnh đó, Hà Nội đề xuất tăng quyền chủ động cho địa phương trong việc sử dụng dữ liệu phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc kết nối dữ liệu giữa các lĩnh vực có thể tạo ra những giá trị mới trong quản lý.

Đại diện Sở dẫn ví dụ việc kết nối dữ liệu giữa ngành giáo dục và y tế. Khi sử dụng dữ liệu về trường học, học sinh kết hợp với dữ liệu dịch bệnh của ngành y tế, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình hình dịch bệnh theo khu vực, xác định nơi có nhiều học sinh mắc bệnh và xây dựng bản đồ dịch bệnh. Qua đó, dữ liệu có thể hỗ trợ cảnh báo sớm và đưa ra giải pháp phù hợp cho các cơ sở giáo dục.

Một hướng khác Hà Nội đang nghiên cứu là khai thác dữ liệu của toàn bộ hệ thống để phục vụ các nền tảng, sàn giao dịch dữ liệu và doanh nghiệp, trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thành phố đang đề xuất khai thác, sử dụng các nguồn dữ liệu như dữ liệu thuế, kiểm toán, hóa đơn và dữ liệu liên quan đến các dự án.

Theo đại diện Sở, dữ liệu từ các tổ chức, doanh nghiệp, trong đó có ngân hàng, cũng có giá trị lớn trong việc phân tích xu hướng và nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân. Nếu được khai thác phù hợp, những dữ liệu này có thể hỗ trợ các cơ quan, doanh nghiệp đưa ra các quyết định và phát triển dịch vụ sát hơn với nhu cầu thực tế.

Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất tập trung giải quyết 2 vấn đề căn cơ

Ông Trần Kiên – Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ): Trong bài trình bày trước đó, tôi đã chỉ ra 6 điểm nghẽn lớn nằm rải rác ở các bộ, ngành và địa phương. Ở quy mô quốc gia, giải pháp đột phá mà phía Trung ương cũng như Chính phủ nhận định chính là phải xây dựng và đưa ra được các nền tảng số dùng chung quốc gia.

Vừa rồi, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu cho Chính phủ ban hành 79 nền tảng dùng chung quốc gia ở 14 bộ, ngành Trung ương. Quan điểm chỉ đạo nhất quán ở đây là bộ, ngành ở Trung ương làm và phát triển, địa phương chỉ việc sử dụng chứ không xây dựng lại nữa.

Để các nền tảng lớn, như VNeID hay nền tảng chia sẻ dữ liệu cơ quan nhà nước theo Nghị định 278 (về kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị), có thể “nói chuyện” và trao đổi dữ liệu thông suốt với nhau, bắt buộc phải tuân theo một quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất.

Ban Chỉ đạo Trung ương đã đề xuất yêu cầu tất cả 79 nền tảng này phải sử dụng VNeID để đăng nhập và xác thực. Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ Công an ban hành hướng dẫn và quy chuẩn chung nhằm xác thực tài khoản người dùng VNeID qua 79 nền tảng này. Đây là bước then chốt để khai thông việc sử dụng các nền tảng dùng chung.

1790219447850-862273781835288496-g3559095187975562787-ae70d0eb3bb016298a7e9a91c5b14b5c.jpg
Ông Trần Kiên cho biết những điểm nghẽn lớn về thể chế, hạ tầng, khoảng cách số hay an toàn, an ninh thông tin là các vấn đề rất lớn, không thể giải quyết dứt điểm chỉ trong 3 tháng. Do đó, phía Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất tập trung giải quyết 2 vấn đề căn cơ, mang tính nền tảng ở quy mô quốc gia trong chiến dịch 100 ngày, kết thúc vào ngày 30/10.

Ban Chỉ đạo xác định, việc chuyển đổi số muốn đồng bộ thì bắt buộc phải có một bức tranh tổng thể, đó là khung kiến trúc tổng thể quốc gia.

Khung kiến trúc này sẽ định hình các thành phần cốt lõi về thể chế, nền tảng, ứng dụng (phân định rõ cái nào dùng chung, cái nào cho địa phương) và hạ tầng (phân định nhiệm vụ giữa quốc gia và địa phương).

Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định 1425 về khung tổng thể quốc gia số, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành bước 1. Hiện tại, chúng tôi đang triển khai bước 2 là hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tự xây dựng khung kiến trúc cho riêng mình.

Những điểm nghẽn lớn về thể chế, hạ tầng, khoảng cách số hay an toàn, an ninh thông tin là các vấn đề rất lớn, không thể giải quyết dứt điểm chỉ trong 3 tháng.

Do đó, phía Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất tập trung giải quyết 2 vấn đề căn cơ, mang tính nền tảng ở quy mô quốc gia trong chiến dịch 100 ngày, kết thúc vào ngày 30/10.

Những giải pháp cụ thể để tháo gỡ những điểm nghẽn chuyển đổi số

Sau phần tham luận, tọa đàm chuyển sang diễn đàn mở do ông Vũ Kiêm Văn, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký VDCA và ông Nguyễn Bá Kiên, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử VietTimes đồng chủ trì.

1790219446829-862273781835288496-g3559095187975562787-898264e92e19e3e4efc0362f19d174a9.jpg
Ông Vũ Kiêm Văn, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký VDCA và ông Nguyễn Bá Kiên, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử VietTimes đồng chủ trì diễn đàn mở.

"Khi xác định dữ liệu là một trong những điểm nghẽn, ở góc độ Cục Chuyển đổi số quốc gia có những giải pháp cụ thể nào để tháo gỡ những điểm nghẽn này?", ông Vũ Kiêm Văn đặt câu hỏi.

Trả lời, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết về quản lý dữ liệu, Chính phủ giao Bộ Công an xây dựng, ban hành Luật Dữ liệu và các văn bản dưới luật, trong đó có các nghị định, nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc tạo lập, chia sẻ dữ liệu.

1790219449821-862273781835288496-g3559095187975562787-5ba3b9cbb65e032260e85b597f92e1c3.jpg
Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia cho biết khi dữ liệu đã được chuẩn hóa theo quy chuẩn, tiêu chuẩn, việc triển khai tại các địa phương, bộ, ngành sẽ thuận lợi hơn,

Theo ông Kiên, có nhiều điểm nghẽn trong toàn bộ quá trình từ tạo lập, chuẩn hóa đến chia sẻ dữ liệu, cũng như trong việc xây dựng hành lang pháp lý. Mỗi khâu đều có những vấn đề cần tháo gỡ.

"Về phía Bộ Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là Cục Chuyển đổi số quốc gia, chúng tôi quan tâm đến khía cạnh ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Khi dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương tham gia xây dựng chưa theo một quy chuẩn thống nhất nào, Bộ sẽ nghiên cứu ban hành bộ tiêu chuẩn về dữ liệu, đồng thời phối hợp với Bộ Công an trong công tác quản lý nhà nước.

Khi dữ liệu đã được chuẩn hóa theo quy chuẩn, tiêu chuẩn, việc triển khai tại các địa phương, bộ, ngành sẽ thuận lợi hơn, qua đó thúc đẩy việc chia sẻ dữ liệu.

Vướng mắc về kinh phí, kết nối dữ liệu và nhân lực cản trở chuyển đổi số địa phương

Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn, cho rằng việc triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn, từ nhận thức, nguồn lực tài chính đến kết nối, vận hành hệ thống và nhân lực công nghệ thông tin.

1790220063031-862273781835288496-g3559095187975562787-07002079707d4271210a2a037152a208.jpg

Theo ông Huy, các bộ, ngành đã được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại các địa phương vẫn chưa đồng đều, nhiều nhiệm vụ đang trong giai đoạn thực hiện và chưa đạt yêu cầu đề ra.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phải gắn với yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng thực tế. Để xác định được dữ liệu cần thu thập, cần làm rõ cơ quan, đơn vị nào sử dụng, sử dụng vào mục đích gì và những thông tin nào cần thiết cho từng nghiệp vụ. Nếu các yêu cầu này chưa được xác định rõ, quá trình triển khai sẽ phát sinh nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, kinh phí xây dựng cơ sở dữ liệu tại địa phương là một trở ngại lớn. Ông Huy dẫn ví dụ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, trong khi khả năng cân đối ngân sách địa phương còn hạn chế.

Thực tế này cho thấy việc triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào chủ trương, mà còn cần cơ chế bố trí nguồn lực phù hợp với quy mô và yêu cầu của từng nhiệm vụ.

Về kết nối hệ thống thông tin, ông Huy cho biết dù Chính phủ đã ban hành các quy định yêu cầu xây dựng và kết nối các hệ thống thông tin, quá trình thực hiện vẫn phát sinh những khó khăn.

Một số cơ sở dữ liệu chưa thể kết nối hoặc chưa được chia sẻ đầy đủ giữa các hệ thống. Ông cho rằng nguyên nhân có thể liên quan đến sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị cũng như đặc điểm của những hệ thống được xây dựng, cung cấp bởi các nhà cung cấp khác nhau.

Trong thực tế, có những hệ thống đang được triển khai nhưng khả năng chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khác còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu thống nhất và làm tăng khó khăn trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin phục vụ quản lý.

Một vấn đề khác được Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn đề cập là việc duy trì, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu sau khi được xây dựng.

Theo ông, địa phương cần có khả năng quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của mình. Việc xây dựng các hệ thống cần đi đôi với cơ chế vận hành, duy trì và bảo đảm điều kiện hạ tầng để hệ thống hoạt động ổn định.

Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực công nghệ thông tin, nguồn lực tài chính và khả năng tổ chức vận hành tại cấp địa phương. Nếu chỉ tập trung đầu tư xây dựng mà chưa bảo đảm nguồn lực duy trì, hiệu quả khai thác hệ thống có thể bị ảnh hưởng.

Từ những khó khăn nêu trên, ông Nguyễn Quang Huy đề xuất cần có sự chỉ đạo rõ ràng, thống nhất hơn trong việc triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan.

Đối với các địa phương, nhất là những nơi còn hạn chế về nguồn lực, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp để triển khai các nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển hạ tầng và bảo đảm điều kiện vận hành hệ thống.

Ông cũng đề cập đến yêu cầu thống nhất về cơ chế hỗ trợ kinh phí, tránh tình trạng mỗi địa phương có cách tiếp cận khác nhau, gây khó khăn trong quá trình đề xuất, triển khai và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

Theo ông Huy, việc tháo gỡ các vướng mắc về nguồn lực, kết nối dữ liệu, vận hành hệ thống và nhân lực là điều kiện quan trọng để các địa phương nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, gắn quá trình đầu tư công nghệ với yêu cầu quản lý và sử dụng thực tế.

Chuyển đổi số phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” sáng 24/9, bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó giám đốc Sở KH&CN TP Đà Nẵng đã chia sẻ những bài học thực tiễn và đề xuất các giải pháp đột phá nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.

Theo bà Phạm Thị Ngọc Quyên trong bối cảnh đẩy mạnh công nghệ toàn diện, thành phố Đà Nẵng luôn xem chuyển đổi số là động lực cốt lõi nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

2aobor0nl8hj5rla8uwdkfopyvdbylhpvaiyvqjk.jpg
Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó giám đốc Sở KH&CN TP Đà Nẵng trình bày tham luận tại Tọa đàm.

Thành phố đặt ra mục tiêu chiến lược không chỉ giữ vững vị thế trung tâm du lịch mà còn hướng tới tầm nhìn trở thành một đô thị AI tiêu biểu trong khu vực. Để hiện thực hóa khát vọng này theo tinh thần nghị quyết của Bộ Chính trị, Đà Nẵng đã gặt hái nhiều thành tựu thiết thực mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp địa phương.

“Những kết quả nổi bật đó bắt nguồn từ các kinh nghiệm triển khai quý báu, tiêu biểu nhất là sự quyết tâm, kiên trì và sát sao chỉ đạo thường xuyên từ người đứng đầu hệ thống chính trị thành phố”, bà Quyên nhấn mạnh.

Bà Phạm Thị Ngọc Quyên cho biết Đà Nẵng đã có 14 năm liên tiếp dẫn đầu chỉ số Vietnam ICT Index và 4 năm liên tiếp (2020-2023) đứng đầu bảng xếp hạng chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI), năm 2024 xếp hạng Nhì. Để duy trì vị thế này, Đà Nẵng đã đúc rút ra 4 bài học cốt lõi.

Thứ nhất, sự quyết tâm và tiên phong của người đứng đầu. Chuyển đổi số trước hết là thay đổi tư duy và phương thức quản trị, được Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đạo xuyên suốt và UBND thành phố điều hành sát sao.

Thứ hai, thể chế và chính sách đặc thù đi trước mở đường. Với quan điểm này, Đà Nẵng tận dụng hiệu quả Nghị quyết 136/2024/QH15 và Nghị quyết 193/2025/QH15 của Quốc hội để thí điểm sandbox, tạo môi trường ưu đãi vượt trội thu hút nhà đầu tư chiến lược.

Và tháng 5/2026, HĐND thành phố ban hành đồng loạt nhiều nghị quyết nâng mức hỗ trợ cho doanh nghiệp tiếp cận công nghệ.

Thứ ba là chiến lược phát triển hạ tầng số đi trước một bước. Định hướng chiến lược rõ ràng, Đà Nẵng đã tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng truyền dẫn, Trung tâm dữ liệu (IDC) quy mô quốc tế, mạng viễn thông băng rộng chất lượng cao, trạm cập bờ cáp quang biển và kho dữ liệu dùng chung liên thông.

Hiện Đà Nẵng đang đẩy nhanh hoàn thiện Khu Công viên phần mềm số 2 nhằm tạo không gian vật lý hoàn chỉnh thu hút doanh nghiệp công nghệ cao, đồng thời chuẩn bị hạ tầng cho các trung tâm dữ liệu và ứng dụng AI. Việc đầu tư hạ tầng số chiến lược được xác định là điều kiện tiên quyết để gỡ điểm nghẽn về kết nối, lưu trữ và xử lý dữ liệu, bảo đảm nền tảng vững chắc cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Thứ tư là lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng. Với quan điểm cốt lõi này, mọi chính sách, nền tảng số đều phải trả lời rõ câu hỏi: Người dân được gì? Doanh nghiệp được lợi ích thiết thực gì? Đây chính là bài học then chốt giúp Đà Nẵng biến chuyển đổi số từ chỉ số kỹ thuật thành giá trị cuộc sống hàng ngày.

Theo bà Phạm Thị Ngọc Quyên quá trình chuyển đổi số Đà Nẵng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng.

Theo bà Phạm Thị Ngọc Quyên quá trình chuyển đổi số Đà Nẵng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng.

Tuy vậy, theo bà Quyên, trong quá trình triển khai, Đà Nẵng vẫn gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Để tiếp tục tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế và đưa chuyển đổi số quốc gia bước vào giai đoạn phát triển chiều sâu, thực chất, mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, lãnh đạo TP Đà Nẵng đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, đẩy mạnh chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia cốt lõi và mở rộng phạm vi sandbox đối với tài sản số, blockchain, đô thị thông minh.

Thứ hai, cho phép các đô thị lớn có cơ chế đãi ngộ đặc thù thu hút chuyên gia AI, bán dẫn và ban hành visa dành cho cộng đồng du mục số.

Thứ ba là đổi mới phương thức đo lường hiệu quả chuyển đổi số theo hướng lấy mức độ hài lòng, thời gian và chi phí tiết kiệm của người dân, doanh nghiệp cùng tỷ lệ đóng góp thực tế của kinh tế số vào GRDP làm thước đo chính.

"Đà Nẵng cam kết tiếp tục tiên phong thí điểm các mô hình công nghệ và thể chế mới, sẵn sàng đóng góp bài học thực tiễn vào tiến trình chuyển đổi số chung của cả nước, hướng tới mục tiêu trở thành “Thành phố AI” tiêu biểu của khu vực", bà Quyên chia sẻ.

C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn trong phát triển VNeID

Trình bày tham luận “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới”, đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an, cho biết VNeID đang từng bước trở thành điểm chạm số thống nhất phục vụ người dân, doanh nghiệp.

2aobor0nawnwup9upkj58kfmfdddtatp0kyzitbq.jpg
Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) trình bày tham luận tại Tọa đàm.

Theo lãnh đạo C06, thời gian qua, đơn vị đã tham mưu, tổ chức triển khai các nhiệm vụ của Đề án 06 về ứng dụng dữ liệu dân cư, căn cước, định danh và xác thực điện tử. Qua đó, VNeID bước đầu tạo ra những chuyển biến trong cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính và phát triển các tiện ích số.

VNeID được xác lập là tài khoản định danh điện tử thống nhất để người dân sử dụng khi thực hiện dịch vụ công và thủ tục hành chính. Ứng dụng cũng được đưa vào hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị với nhiều tiện ích phục vụ bầu cử, góp ý văn kiện Đại hội, góp ý sửa đổi Hiến pháp, lấy ý kiến Nhân dân đối với các dự thảo luật và chi trả an sinh xã hội trên phạm vi toàn quốc.

VNeID hiện có 85 tiện ích, hơn 500 triệu lượt truy cập và khoảng 6 triệu người sử dụng mỗi ngày. Ứng dụng đã tích hợp hơn 42,9 triệu sổ sức khỏe điện tử, hơn 1,5 triệu phiếu lý lịch tư pháp, 20,2 triệu giấy phép lái xe, 7,4 triệu đăng ký xe và 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế...

VNeID cũng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong giao thông, xác thực sinh trắc học đã được triển khai tại 19 cảng hàng không với hơn 156.000 chuyến bay nội địa. Thời gian làm thủ tục còn khoảng 3-5 giây, ước tính tiết kiệm 46 tỷ đồng.

Trong ngân hàng, C06 cho biết đã đối chiếu sinh trắc học và chia sẻ dữ liệu thành công đối với 268,7 triệu hồ sơ, góp phần giảm khoảng 60% số vụ lừa đảo và tiết kiệm khoảng 652 tỷ đồng mỗi năm.

Trong y tế, 600 kiosk y tế tự động đã phục vụ hơn 2,2 triệu lượt đăng ký khám, ước tính tiết kiệm 50-75 tỷ đồng mỗi năm. Trong viễn thông, C06 đã làm sạch và đồng bộ hơn 148 triệu thông tin thuê bao vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, góp phần hạn chế SIM rác, giả mạo thông tin và phòng ngừa thiệt hại ước khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi năm.

2aobor0nl64wct4kkovbxmvahspdgcjcsepsisqk.jpg
Phó Cục trưởng C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn trong phát triển VNeID.

Tuy nhiên, C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn trong phát triển VNeID, gồm: thể chế; liên thông dữ liệu và tổ chức hệ sinh thái VNeID; phát huy vai trò chủ thể của công dân số; khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.

Theo đại tá Ngô Như Cường, về thể chế, một số vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của danh tính số, chia sẻ và kiểm soát dữ liệu, cung cấp dịch vụ định danh, xác thực và công nhận kết quả xác thực cần tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ.

Về dữ liệu, hiện còn tình trạng nhiều hệ thống, nhiều chuẩn kết nối, dữ liệu phân tán, chất lượng và độ phủ dữ liệu chưa đồng đều. Một số quy trình số chưa được thực hiện thường xuyên, đồng bộ từ đầu đến cuối.

Đối với công dân số, người dân không chỉ cần có tài khoản định danh điện tử mà phải thực sự sử dụng, chủ động cập nhật, kiểm soát dữ liệu và thụ hưởng các dịch vụ số.

Trong khi đó, việc kết nối, công nhận và sử dụng kết quả định danh điện tử giữa Việt Nam với các quốc gia khác mới ở giai đoạn triển khai, đòi hỏi giải quyết đồng thời các yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, C06 xác định 4 hướng trọng tâm: tiếp tục hoàn thiện Luật Định danh và xác thực điện tử; triển khai Đề án phát triển VNeID giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; triển khai Nghị quyết về phát triển công dân số; đồng thời đẩy mạnh kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của các quốc gia.

C06 hướng tới phát triển VNeID thành hạ tầng định danh và tương tác số tin cậy của quốc gia, kết nối Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong nước, đồng thời từng bước liên thông với hệ thống định danh của các nước.

6 nhóm điểm nghẽn đang cản trở hiệu quả chuyển đổi số

Mở đầu là tham luận “Những điểm nghẽn đang cản trở chuyển đổi số quốc gia và giải pháp xử lý”, lãnh đạo Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) phân tích một loạt điểm nghẽn lớn và đề xuất một số giải pháp trọng tâm để tháo gỡ các điểm nghẽn.

2aobor0myypkkynmjg2xwkwntajhvbba98gufsxs.jpg
Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ KHCN trình bày tham luận tại Tọa đàm.

Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng có khoảng cách trong thực thi chuyển đổi số giữa các bộ, ngành và địa phương.

Dẫn số liệu 5 tháng đầu năm 2026, đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia cho rằng khoảng cách lớn nhất nằm ở khả năng tái sử dụng dữ liệu. Tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành chỉ đạt hơn 5%, trong khi địa phương đạt 96%.

Tọa đàm quy tụ đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ.

Tọa đàm quy tụ đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ.

Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành cũng chỉ ở mức 34%, so với 94% tại địa phương; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả điện tử lần lượt là 19% tại các bộ, ngành và 89% tại địa phương.

Điều này cho thấy số hóa chưa đồng nghĩa với tạo ra giá trị nếu dữ liệu sau khi số hóa không được khai thác và tái sử dụng trong các quy trình nghiệp vụ. Đồng thời, những con số này cho thấy khâu tổ chức thực thi, kết nối và khai thác dữ liệu vẫn là những điểm cần tập trung tháo gỡ.

Tham dự Tọa đàm có đại diện Công an Hà Nội và nhiều chuyên gia.

Tham dự Tọa đàm có đại diện Công an Hà Nội và nhiều chuyên gia.

Từ thực tiễn triển khai, ông Trần Kiên nêu 6 nhóm điểm nghẽn cốt lõi.

Thứ nhất là dữ liệu. Dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, trong khi kết nối và chia sẻ còn hạn chế. Hiện vẫn còn 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa kết nối, đồng bộ.

Thứ hai là quy trình. Việc số hóa cách làm cũ vẫn còn phổ biến, trong khi tỷ lệ tái cấu trúc quy trình và tái sử dụng dữ liệu thấp. Có 80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc.

Thứ ba là nền tảng, với tình trạng phân mảnh, trùng lặp, khiến cán bộ phải thao tác đồng thời trên nhiều hệ thống.

Thứ tư là hạ tầng và an toàn thông tin, khi thiết bị ở cấp cơ sở chưa đồng đều và việc bảo đảm an toàn thông tin chưa xuyên suốt. Khoảng 30% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu công việc.

Thứ năm là nhân lực và trách nhiệm. Tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách, kỹ năng không đồng đều và chưa gắn trách nhiệm cuối cùng với người đứng đầu vẫn là những vấn đề cần giải quyết.

Thứ sáu là đầu tư và tài chính. Công tác chuẩn bị đầu tư còn chậm, cơ chế nghiệm thu và dự toán chi phí vòng đời chưa phù hợp. Đến ngày 17/6/2026, mới giải ngân 12,1% kinh phí chuyển đổi số.

Bên cạnh các điểm nghẽn, chuyển đổi số quốc gia đang đứng trước nhiều cơ hội.

Trong đó, khung thể chế mới tạo cơ sở để mở rộng dịch vụ số, quản trị dữ liệu và ứng dụng AI; độ phủ 5G, Internet rộng khắp cùng hơn 71 triệu tài khoản VNeID tạo nên nền tảng người dùng lớn cho các dịch vụ số.

Dữ liệu công, Trung tâm dữ liệu quốc gia và năng lực tính toán cũng mở ra dư địa lớn để nâng cao năng suất. Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có cơ hội tham gia giải quyết các bài toán chiến lược quốc gia thông qua thị trường Nhà nước.

Theo định hướng đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa xếp hạng Chính phủ số vào nhóm 50 quốc gia đứng đầu thế giới, kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GDP, 100% hộ gia đình được phủ cáp quang và 100% cơ sở dữ liệu dùng chung được chuẩn hóa, sẵn sàng cho AI.

Việt Nam cũng đặt mục tiêu trên 70% người từ 18 tuổi có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử.

Đến năm 2045, mục tiêu tương ứng là đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia đứng đầu về Chính phủ số, kinh tế số chiếm ít nhất 50% GDP và khai thác tối đa dữ liệu toàn dân.

Ông Lê Xuân Sơn, Phó Tổng giám đốc Công ty Công nghệ thông tin VNPT dự Tọa đàm.

Ông Lê Xuân Sơn, Phó Tổng giám đốc Công ty Công nghệ thông tin VNPT dự Tọa đàm.

Gỡ những rào cản, khơi thông nguồn lực để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất

Tham dự tọa đàm có đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo nhiều tỉnh, thành phố; các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, tổ chức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cùng nhà báo, phóng viên các cơ quan báo chí.

4h6a5899.jpg
Đại tá Ngô Như Cường, Phó cục trưởng C06 (đứng) tham dự Tọa đàm.
4h6a5896.jpg
Tọa đàm có sự tham dự của lãnh đạo Hội Truyền thông số Việt Nam. Trong ảnh là ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch VDCA và ông Vũ Kiêm Văn, Phó chủ tịch, Tổng thư ký VDCA.
4h6a5879.jpg
Tọa đàm có sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp công nghệ.
4h6a5873.jpg
Đại tá Ngô Như Cường, Phó cục trưởng C06 (trái) trao đổi với ông Nguyễn Bá Kiên, Tổng biên tập Tạp chí điện tử VietTimes tại Tọa đàm.
4h6a5953.jpg
Các chuyên gia, nhà nghiên cứu tham dự tọa đàm.
4h6a5875.jpg
Tọa đàm có sự tham dự của đại diện doanh nghiệp và các cơ quan báo chí.

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA), nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông nhấn mạnh chưa bao giờ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số lại được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước như hiện nay. Những định hướng lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, đã xác định rõ đây là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới.

img-2743.jpg
Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch VDCA phát biểu khai mạc Tọa đàm.
4h6a5946.jpg
Ông Nguyễn Minh Hồng cho rằng thực tiễn cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn vẫn đang tồn tại. Đó là dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông; nhiều quy trình vẫn vận hành theo tư duy cũ; thể chế và chính sách chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ.

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo đó, chiến dịch “100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” đang được triển khai với quyết tâm cao trên phạm vi cả nước.

“Tọa đàm lần này chính là một hoạt động cụ thể, góp phần nhận diện và tháo gỡ những rào cản, khơi thông nguồn lực để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất”, ông Nguyễn Minh Hồng nói.

blue-tech-digital-marketing-conference-zoom-virtual-background-1280-x-300-px-1280-x-350-px-1280-x-700-px-1280-x-400-px.png

Xã hội số

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” được Hội Truyền thông số Việt Nam phối hợp cùng Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức.

Chuyển đổi số quốc gia: Vướng ở đâu, gỡ thế nào?

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” diễn ra sáng mai (24/9) sẽ tập trung nhận diện những điểm nghẽn đang cản trở quá trình chuyển đổi số và tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ từ góc nhìn cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và chuyên gia.