close Đăng nhập

Có việc làm vẫn không đủ sống, người Mỹ "thắt lưng buộc bụng" vì chi phí sinh hoạt tăng

Có việc làm không còn đồng nghĩa với cuộc sống ổn định về tài chính đối với nhiều người Mỹ. Khi giá tiêu dùng tăng nhanh hơn tiền lương, hàng triệu lao động phải làm bán thời gian ngoài mong muốn, nhận thêm việc hoặc rút tiền tiết kiệm để trang trải những nhu cầu thiết yếu.

co-viec-lam-van-khong-du-song-nguoi-my-that-lung-buoc-bung-vi-chi-phi-sinh-hoat-tang.png
Người dân Mỹ mua sắm tại cửa hàng Costco ở quận Staten Island, thành phố New York, Mỹ, ngày 16/1. Ảnh: Reuters.

Stacy Eichel, một phụ nữ ở Florida có con đã trưởng thành và không còn sống cùng cha mẹ, đã dành nhiều năm xoay xở giữa hai công việc. Một công việc thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe; công việc còn lại là doanh nghiệp riêng của bà, chuyên sản xuất quà tặng in logo theo yêu cầu cho khách hàng doanh nghiệp, chẳng hạn cốc cà phê và áo phông mà các công ty thường phát tại hội nghị hoặc tiệc cuối năm.

Với Eichel, công việc kinh doanh này không đơn thuần là nguồn thu nhập bổ sung. Đó còn là một cách để bà, người luôn bận rộn và không ngừng tìm kiếm cơ hội mới, thỏa mãn tinh thần khởi nghiệp. Mô hình này từng hoạt động hiệu quả khi các công ty còn dư ngân sách để mua những món quà nhỏ in thương hiệu, biến các hội nghị doanh nghiệp vốn nhàm chán thành sự kiện đáng nhớ hơn.

Tháng 9/2025, Eichel mất công việc tiếp thị tại một công ty chăm sóc sức khỏe sau khi doanh nghiệp này sáp nhập. Đột nhiên, công việc kinh doanh vốn chỉ là nghề tay trái phải gánh thêm phần lớn trách nhiệm bảo đảm thu nhập cho bà. Nhưng đúng lúc cần dựa vào nguồn thu này nhiều hơn, thị trường cho các sản phẩm của bà lại thu hẹp.

Trước những bất ổn về chính sách thương mại và thuế quan, cùng việc trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nền kinh tế, các công ty bắt đầu thắt chặt chi tiêu. Những món quà tặng in thương hiệu theo yêu cầu trở thành một khoản chi nữa mà doanh nghiệp có thể cắt bỏ.

“Nền kinh tế hiện nay khiến ít người mua các sản phẩm quà tặng in thương hiệu theo yêu cầu hơn, bởi đây là một khoản chi mang tính xa xỉ. Khi còn dư tiền trong ngân sách, họ có thể dành cho những món đồ đó, nhưng giờ đây ngân sách của họ đã bị siết rất chặt”, Eichel cho hay. Bà cho biết mình cũng đã phải cắt giảm chi tiêu.

Trải nghiệm của Eichel phản ánh sức ép rộng hơn trên thị trường lao động Mỹ, nơi có việc làm không đồng nghĩa với sự an toàn về tài chính. Tỷ lệ thất nghiệp được công bố rộng rãi chỉ phản ánh những người đang tích cực tìm việc, nhưng chưa cho thấy đầy đủ tình cảnh của những người phải làm ít giờ hơn mong muốn hoặc xoay xở với nhiều công việc nhưng vẫn không kiếm đủ thu nhập.

Bộ Lao động Mỹ theo dõi thực trạng này thông qua chỉ số U-6, thước đo rộng hơn về thất nghiệp và thiếu việc làm. Chỉ số hiện ở mức cao 7,6%. Dù đã giảm so với mức 8,1% một năm trước, số liệu này cho thấy có việc làm chưa chắc giúp người Mỹ cải thiện tình hình tài chính.

U-6 bao gồm những người phải làm bán thời gian vì không tìm được việc toàn thời gian, cũng như những người muốn đi làm nhưng đã ngừng tìm việc trong thời gian gần đây.

sau-gan-2-nam-ong-trump-tro-lai-nha-trang-nguoi-my-giau-len-hay-ngheo-di.jpg
Một gia đình có thể kiếm được nhiều tiền hơn năm trước nhưng vẫn cảm thấy khó khăn nếu những khoản chi bắt buộc tăng nhanh. Ảnh: Getty.

Sức ép lên túi tiền

Ngay cả những người làm việc toàn thời gian cũng nhận thấy thu nhập không còn đủ trang trải như trước. Ước tính có 4,5 triệu người Mỹ làm bán thời gian vì không thể tìm được việc toàn thời gian. Trong khi đó, theo báo cáo việc làm mới nhất, 9 triệu người Mỹ có nhiều hơn một công việc, chiếm 5,5% tổng số lao động đang có việc làm.

“Thiếu việc làm là một trong những vấn đề kinh tế bị hiểu sai nhiều nhất ở Mỹ, bởi nó không phải lúc nào cũng biểu hiện giống thất nghiệp. Nó có thể là một người tốt nghiệp đại học nhưng phải làm bán lẻ dù đã có bằng cấp; một cựu lãnh đạo chấp nhận công việc chỉ trả một nửa mức lương trước đây; hoặc một phụ huynh phải làm hai việc vì không công việc nào cung cấp đủ giờ làm, phúc lợi hay thu nhập để nuôi sống gia đình”, bà Tara Furiani, chuyên gia chiến lược lao động tại Richmond, bang Virginia, cho hay.

Theo báo cáo Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mới nhất do Bộ Lao động Mỹ công bố, tiền lương bình quân theo giờ tăng 3% trong năm qua, trong khi giá tiêu dùng tăng 3,7%.

Điều đó có nghĩa giá cả tăng nhanh hơn tiền lương, khiến sức mua của nhiều người lao động suy giảm. So với tháng trước đó, mặt bằng giá tăng 0,6%, trong khi tiền lương bình quân theo giờ chỉ tăng 0,1%, tiếp tục tạo thêm áp lực tài chính lên những hộ gia đình như nhà Eichel.

Eichel đã phải cắt giảm chi phí và thu hẹp những khoản chi quen thuộc, trong đó có ăn uống bên ngoài, đặt đồ ăn mang về và dịch vụ truyền hình cáp.

“Trước đây, tôi chẳng bao giờ phải cân nhắc trước khi đặt đồ ăn. Giờ thì chúng tôi tự nấu mọi thứ”, bà nói.

Khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ đến gần, chi phí sinh hoạt đang trở thành mối quan tâm ngày càng lớn của cử tri. Một cuộc thăm dò của Reuters/Ipsos cho thấy đây là vấn đề quan trọng nhất đối với cử tri, bỏ xa chủ đề đứng thứ hai với khoảng cách hai chữ số: 47% người được hỏi lựa chọn chi phí sinh hoạt, so với 22% quan tâm đến “các chuẩn mực và giá trị dân chủ”.

Một cuộc khảo sát riêng của Washington Post, ABC News và Ipsos cho thấy cử tri tin tưởng đảng Dân chủ hơn đảng Cộng hòa trong việc điều hành kinh tế, với tỷ lệ lần lượt là 40% và 33%. Đây là lần đầu tiên trong 12 năm đảng Dân chủ có lợi thế về mức độ tín nhiệm đối với vấn đề này.

Trong khi đó, theo cuộc thăm dò do Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố đầu tháng này, 44% người Mỹ cho biết họ đã gặp khó khăn khi chi trả ít nhất một nhu cầu thiết yếu trong năm qua, bao gồm đi lại, tiền thuê nhà hoặc trả góp mua nhà, chăm sóc y tế và thực phẩm.

Có tới 20% người tham gia khảo sát cho biết họ đã nhận thực phẩm từ ngân hàng thực phẩm hoặc các điểm phân phát thực phẩm miễn phí trong năm qua.

Joshua Teicher, nhà sản xuất video trong ngành quảng cáo tại thành phố New York, cho biết công việc bắt đầu cạn dần sau đại dịch COVID-19. Trong những năm gần đây, cơ hội tiếp tục giảm khi các công ty thắt chặt ngân sách. Ngay cả lượng công việc ít ỏi còn lại cũng gần như biến mất hoàn toàn.

Teicher nói với Al Jazeera rằng tình hình tài chính của ông đã thay đổi đáng kể, đến mức ông hiện phải sử dụng Medicaid, chương trình bảo hiểm y tế do chính phủ hỗ trợ dành cho người có thu nhập thấp. Ông cho biết mình đang chật vật trang trải tiền thuốc kê đơn và thực phẩm.

“Tôi phải dùng đến tiền tiết kiệm. Có những lúc tôi không muốn gọi thêm một cốc cà phê vì một ly espresso hay thứ gì tương tự cũng có giá khoảng 5 USD. Việc ăn uống lành mạnh cũng khó hơn. Giá táo ở cửa hàng tạp hóa thật vô lý. Tôi phải đi bộ thêm vài dãy phố để đến cửa hàng rẻ hơn vì táo ở đó có giá thấp hơn. Những chuyện như vậy đấy”, Teicher kể.

Ông cho biết ngân sách eo hẹp cũng khiến mình không đủ khả năng chi trả cho ca phẫu thuật đầu gối cần thiết. Sụn ở cả hai đầu gối của ông đã bị bào mòn. Ông từng phẫu thuật đầu gối phải để khắc phục vấn đề, nhưng không đủ tiền thực hiện thủ thuật tương tự ở đầu gối trái. Hệ quả là hiện nay một chân của ông dài hơn chân còn lại một chút.

Giá xăng cũng là khoản chi gây sức ép lên người tiêu dùng. Theo Hiệp hội Ô tô Mỹ (AAA), tổ chức theo dõi giá nhiên liệu hằng ngày, giá xăng bình quân hôm thứ Hai đạt 4,29 USD/gallon, tương đương khoảng 3,78 lít. Trong khi đó, mức giá bình quân chỉ là 2,98 USD/gallon khi Mỹ và Israel lần đầu tấn công Iran vào cuối tháng 2, châm ngòi cho những gián đoạn kéo dài trên thị trường toàn cầu.

sau-gan-2-nam-ong-trump-tro-lai-nha-trang-nguoi-my-giau-len-hay-ngheo-di-8361.png
Người dân mua sắm tại siêu thị Zabar's ở thành phố New York, Mỹ. Ảnh: Reuters.

Sức ép từ thị trường

Ngay cả với những người đang có việc làm, tìm được một vị trí có mức lương cao hơn cũng không hề dễ dàng. Một số ngành vẫn tiếp tục tạo thêm việc làm, nhưng sự bất ổn về chính sách kinh tế đã góp phần hình thành thị trường lao động mà các nhà kinh tế gọi là trạng thái “ít tuyển dụng, ít sa thải”.

Các doanh nghiệp đang hạn chế tuyển người mới, dù làn sóng sa thải vẫn tương đối thấp. Báo cáo Khảo sát cơ hội việc làm và luân chuyển lao động (JOLTS) mới nhất của Cục Thống kê Lao động Mỹ cho thấy số vị trí tuyển dụng và số người lao động tự nghỉ việc nhìn chung không thay đổi đáng kể.

“Tôi đã chứng kiến những người có trình độ rất cao nhưng vẫn không thể tìm được việc trong suốt 12–18 tháng”, ông Babak Hafezi, giáo sư kinh doanh quốc tế tại Đại học Mỹ (American University), nói với Al Jazeera.

Khi cơ hội việc làm ngày càng ít, những người đã có việc có thể ngần ngại nghỉ việc, ngay cả khi không hài lòng hoặc muốn có mức lương cao hơn. Người đang tìm việc phải cạnh tranh với nhiều ứng viên hơn cho số vị trí hạn chế, trong khi những người đã đi làm có ít lợi thế hơn khi thương lượng tăng lương.

Điều này khiến người lao động khó cải thiện tình hình tài chính ngay cả khi chi phí sinh hoạt tiếp tục tăng. Một số người vốn đã làm toàn thời gian vì thế phải tìm thêm công việc bán thời gian để bù đắp thu nhập.

“Chúng tôi thường xuyên gặp những người đến hỏi việc, trong đó có giáo viên muốn tìm một công việc bán thời gian hoặc người làm ở các lĩnh vực khác hỏi: ‘Anh chị có biết nơi nào đang tuyển bán thời gian không? Tôi chỉ cần thêm 15–20 giờ làm mỗi tuần để đủ trang trải cuộc sống’. Vậy tình trạng này sẽ kéo dài đến bao giờ?”, bà Debbie Louis, chủ một quán cà phê tại Brooklyn, New York, nói với Al Jazeera.

Dù các ngành như dịch vụ lưu trú, ăn uống và chăm sóc sức khỏe đã tạo thêm việc làm trong năm qua, ông Hafezi cho rằng đà tăng này có thể chậm lại hoặc đảo chiều trong năm tới.

Ông chỉ ra những tác động tiềm tàng từ đạo luật thuế mang tên “Big Beautiful” (Đạo luật Lớn và Đẹp), vốn có thể làm giảm nguồn tài trợ cho các chương trình hỗ trợ, trong đó có những chương trình dành cho bệnh viện ở khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, các chính sách nhập cư đã khiến hoạt động du lịch quốc tế đến Mỹ giảm sức hút trong năm qua, gây ảnh hưởng đến những doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn thu từ nhóm khách này.

Cùng lúc, người tiêu dùng Mỹ phải đối mặt với thực tế sức mua suy giảm.

“Thuế quan và sức ép kinh tế do lạm phát cao đang ảnh hưởng đến sức mua của người Mỹ. Khi giá cả tăng, lượng hàng hóa họ tiêu thụ giảm xuống, bởi tiền lương không còn đủ để mua được nhiều như trước”, ông Hafezi nói.

“Điều này cuối cùng khiến người Mỹ cảm thấy mình nghèo đi và ít có khả năng chi tiêu hơn. Đó chính là hoàn cảnh mà nhiều người đang phải đối mặt trong nền kinh tế hình chữ K”.

Trong mô hình kinh tế hình chữ K, nhóm người tiêu dùng giàu có tại Mỹ tiếp tục thịnh vượng, trong khi các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình ngày càng tụt lại phía sau. Báo cáo niềm tin người tiêu dùng gần nhất của Conference Board cho thấy các hộ gia đình có thu nhập cao lạc quan hơn những nhóm khác, một phần nhờ lợi nhuận từ đầu tư và nguồn dự trữ tài chính dồi dào hơn.

“Trước thềm bầu cử giữa nhiệm kỳ, các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động cần xem xét không chỉ có bao nhiêu người Mỹ đang làm việc, mà còn phải đánh giá liệu những công việc hiện có có bảo đảm mức lương phù hợp, đủ giờ làm, lịch làm việc ổn định, phúc lợi và cơ hội thăng tiến thực sự hay không. Bởi có tiền lương và có sự an toàn về kinh tế, một lần nữa, là hai chuyện hoàn toàn khác nhau”, chuyên gia chiến lược lao động Tara Furiani nhấn mạnh.

Theo AJ, AFP

Thế giới