close Đăng nhập

Làm gì để sản phẩm an ninh mạng "Made in Vietnam" chiếm lĩnh thị trường?

Theo Báo cáo khảo sát của Hiệp hội An ninh mạng quốc gia vừa phát hành sáng 23/12, tỷ lệ sử dụng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng “Make in Vietnam” trong các cơ quan, doanh nghiệp hiện còn hạn chế.

Nhiều cơ quan, doanh nghiệp đã có nhận thức đúng đắn về bảo đảm an ninh mạng
Nhiều cơ quan, doanh nghiệp đã có nhận thức đúng đắn về bảo đảm an ninh mạng

Doanh nghiệp cải thiện nhận thức về an ninh mạng

Theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam đã có sự cải thiện nhận thức về bảo đảm an ninh mạng, an toàn hệ thống thông tin. Đã có 85,1% cơ quan, doanh nghiệp trang bị phần mềm diệt virus bảo vệ cho các máy tính, máy chủ. 75,8% đơn vị đã đầu tư giải pháp tường lửa và 64,1% đã có giải pháp sao lưu, phục hồi dữ liệu. Có 75,8% cơ quan, doanh nghiệp đã thực hiện đào tạo nhận thức an ninh mạng cho nội bộ ít nhất một lần trong năm.

Một số giải pháp, dịch vụ công nghệ mới, tiên tiến cũng đã bắt đầu phổ biến. Điển hình là giải pháp giám sát an ninh mạng tập trung SOC đã có 47,1% cơ quan, doanh nghiệp quan tâm, nghiên cứu đầu tư. Dịch vụ thông tin tình báo an ninh mạng (Threat Intelligence) có 35,2% cơ quan, doanh nghiệp sử dụng. Khoảng 38,3% doanh nghiệp đã tìm đến các giải pháp phát hiện và ứng phó điểm cuối EDR.

Bên cạnh đầu tư về giải pháp công nghệ, các doanh nghiệp, tổ chức đã chú ý đến triển khai các tiêu chuẩn an ninh mạng. Có 53,8% đơn vị đã triển khai các tiêu chuẩn ISO, 31,6% triển khai tiêu chuẩn PCI DSS, 19,4% hướng theo tiêu chuẩn NIST và 34,6% triển khai các tiêu chuẩn TCVN. Cùng với đó có 64,1% doanh nghiệp, tổ chức đã chủ động đánh giá, ban hành cấp độ an toàn thông tin theo hướng dẫn.

Tỷ lệ sử dụng sản phẩm an ninh mạng trong nước còn khiêm tốn

Doanh nghiệp Việt Nam đã có sự cải thiện nhận thức về bảo đảm an ninh mạng, an toàn hệ thống thông tin, nhưng theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, trung bình mỗi tổ chức chỉ sử dụng khoảng 24,7% sản phẩm, dịch vụ đến từ các công ty trong nước. Điều này cho thấy tâm lý thiếu tin tưởng và sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài còn rất lớn. Đây là một thách thức thật sự trong việc phát triển hệ sinh thái an ninh mạng và cao hơn là phát triển ngành công nghiệp an ninh mạng tại Việt Nam.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đang khuyến khích, thậm chí quy định bắt buộc sử dụng các sản phẩm an ninh mạng nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực trọng yếu như cơ sở hạ tầng quốc gia, ngân hàng, năng lượng và viễn thông.

Theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, việc sử dụng các sản phẩm an ninh mạng trong nước mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho cả doanh nghiệp và quốc gia. Trước hết, sản phẩm nội địa giúp giảm sự phụ thuộc vào các công nghệ nước ngoài, đặc biệt là trong bối cảnh gia tăng các nguy cơ gián điệp và chiến tranh mạng.

Các giải pháp “Make in Vietnam” được thiết kế với sự hiểu biết sâu sắc về hạ tầng, quy định pháp luật, đặc thù của người dùng và thị trường Việt Nam, từ đó tối ưu hơn trong việc triển khai và vận hành.

Ngoài ra, việc sử dụng sản phẩm nội địa còn thúc đẩy, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tăng cường quảng bá, khẳng định chất lượng sản phẩm nội địa

giai-phap-an-ninh-mang-cua-viettel-7675.jpg
Chuyên gia Viettel giới thiệu giải pháp an ninh mạng

Theo chuyên gia của Hiệp hội, để các sản phẩm an ninh mạng “Make in Vietnam” có thể chiếm lĩnh thị trường, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, chính phủ và cộng đồng công nghệ. Các doanh nghiệp công nghệ cần đầu tư mạnh mẽ hơn vào nghiên cứu, phát triển, xây dựng sản phẩm có chất lượng cạnh tranh với thị trường quốc tế.

Chính phủ nên thúc đẩy chính sách ưu tiên sử dụng sản phẩm nội địa trong các lĩnh vực trọng yếu và khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các giải pháp “Make in Vietnam”.

Ngoài ra, việc tăng cường quảng bá, cải thiện hình ảnh và khẳng định chất lượng sản phẩm nội địa thông qua các chứng nhận, giải thưởng quốc tế cũng là một bước quan trọng để nâng cao vị thế của công nghệ Việt trên thị trường an ninh mạng.

Chuyển đổi số

TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách Chiến lược Trung ương.

Dữ liệu phải là hạ tầng chiến lược của khu công nghiệp

TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng khu công nghiệp thế hệ mới cần được quản trị trên nền tảng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức quản trị minh bạch, thông minh, hiệu quả, coi dữ liệu là hạ tầng chiến lược.

TS Babak Sabi, Cố vấn Kỹ thuật, nguyên Phó Chủ tịch Amazon và Phó Chủ tịch Cấp cao Intel đánh giá Việt Nam là quốc gia có lợi thế về nguồn nhân lực, nền tảng công nghệ và cơ hội thu hút các công nghệ sản xuất tiên tiến. Ảnh XM.

Đà Nẵng làm gì để trở thành trung tâm AI của khu vực

"Đà Nẵng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trong nghiên cứu, đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao", Phó Chủ tịch TP Đà Nẵng nói.

UAV của CT UAV đáp tự động không dừng trên tàu thủy đang chạy tốc độ cao.

CT Group đưa công nghệ UAV Make in Vietnam sang Mỹ

CT Group dự kiến vận hành nhà máy sản xuất UAV tại Mỹ vào quý IV/2026. Đến nay, tập đoàn đã làm chủ gần 88% các công nghệ cốt lõi và phát triển UAV phục vụ 16 lĩnh vực, với sự tham gia của hơn 900 nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia.