Room ngoại: nới hay không?

Thông tư 41 với các yêu cầu về an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel 2 một lần nữa đặt ra yêu cầu bức thiết trong việc tăng vốn ở nhiều ngân hàng nhằm đáp ứng được tiêu chuẩn mới về vốn này. Một trong những giải pháp chính được nêu ra là Nhà nước cho tăng room ngoại (giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài) ở các ngân hàng thương mại trong nước lên trên 30%.

Việc tăng room cho nhà đầu tư tại một số ngân hàng mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối là việc không hề dễ dàng. Ảnh: THÀNH HOA

Việc tăng room cho nhà đầu tư tại một số ngân hàng mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối là việc không hề dễ dàng. Ảnh: THÀNH HOA

Cơ sở xem xét

Việc nới room ngoại được đề xuất chủ yếu dựa trên giả định rằng các cổ đông hiện hữu đồng ý với phương án pha loãng cổ phiếu, và/hoặc nhà đầu tư nước ngoài (có thể là cổ đông hiện hữu) sẵn lòng mua (thêm) cổ phiếu của ngân hàng và mua với giá cao. Bằng việc phát hành cổ phiếu với giá cao như vậy cho nhà đầu tư ngoại, người ta kỳ vọng sẽ thu được một lượng vốn lớn hơn lượng vốn có thể thu được qua cùng kênh này nếu là bán cho nhà đầu tư nội địa.

Tuy nhiên, đến đây sẽ cần phải cân nhắc ít nhất hai vấn đề. Thứ nhất, liệu cổ đông hiện hữu có đồng ý với phương án pha loãng cổ phiếu, phát hành riêng biệt cổ phiếu (cho nhà đầu tư, cổ đông nước ngoài) hay không?

Đối với ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, vấn đề dù sao cũng dễ giải quyết hơn, nếu các cổ đông hiện hữu thấy được lợi ích tăng vốn thông qua hành động này trong khi tự thân họ không có nhu cầu bỏ thêm vốn của mình để làm tăng vốn cho ngân hàng.

Khó khăn là với ba ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước (gọi tắt là ngân hàng có vốn nhà nước) như BIDV, Vietinbank và Vietcombank, và ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước là Agribank. Với các ngân hàng này, nhà nước là cổ đông duy nhất hoặc lớn nhất, chiếm tỷ lệ chi phối, nên việc pha loãng cổ phiếu, tăng room cho nhà đầu tư nước ngoài (đồng nghĩa với việc nhà nước phải thu hẹp tỷ lệ sở hữu của mình hoặc phải bỏ thêm vốn vào để giữ tỷ lệ) trong những ngân hàng có tính “xương sống” của hệ thống ở nhiều khía cạnh như đóng góp cho ngân sách, là công cụ thi hành chính sách tiền tệ và đảm bảo an toàn hệ thống... là một quyết định không hề dễ dàng, không phụ thuộc vào ý chí của một cá nhân hay một cơ quan hành pháp nào đó.  

Cần phải tiến hành một cuộc khảo sát toàn diện, sâu rộng về sự quan tâm và nhu cầu đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào ngành ngân hàng Việt Nam, để nắm được có bao nhiêu nhà đầu tư quan tâm, ngân hàng nào, ở điểm gì, mức giá sẵn lòng mua ước tính bao nhiêu, dự định nắm giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần, trong bao lâu và triển vọng nắm giữ trong tương lai...

Vấn đề thứ hai, liệu nhà đầu tư nước ngoài có mặn mà với việc nắm giữ (nhiều hơn) cổ phần ở các ngân hàng thương mại Việt Nam sau khi room ngoại được nới? Nếu sự quan tâm và sẵn lòng mua với giá cao của nhà đầu tư ngoại tỏ ra chỉ là một tin đồn nhiều hơn, thì việc nới room vừa không đạt được mục đích tăng vốn vừa tạo những kẽ hở cho một số “nhà đầu tư” nước ngoài thâu tóm một (số) ngân hàng thương mại trong nước với động cơ mờ ám.

Như vậy, nới hay không nới room cho nhà đầu tư nước ngoài thì trước tiên cần phải xử lý ổn thỏa, làm chắc các vấn đề nêu trên.

Làm cách nào?

Trước hết, cần phải tiến hành một cuộc khảo sát toàn diện, sâu rộng về sự quan tâm và nhu cầu đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào ngành ngân hàng Việt Nam, để nắm được có bao nhiêu nhà đầu tư quan tâm, ngân hàng nào, ở điểm gì, mức giá sẵn lòng mua ước tính bao nhiêu, dự định nắm giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần, trong bao lâu và triển vọng nắm giữ trong tương lai...

Câu trả lời cho những câu hỏi trên là cơ sở để hoạch định chương trình hành động nới room, nếu có, với các chi tiết: sẽ nới room một cách lựa chọn hay không, cho những đối tượng ngân hàng trong nước nào với đối tượng nhà đầu tư tiềm năng nào, và nên nới bao nhiêu là vừa, theo lộ trình nào, với những điều kiện nào...

Để phục vụ cho mục đích khảo sát này, về phía Việt Nam, cần phối hợp tích cực cung cấp thông tin cần thiết khi được yêu cầu để làm cơ sở cho nhà đầu tư tiềm năng có cái nhìn đầy đủ hơn về sức khỏe và lợi thế của mỗi ngân hàng mục tiêu.

Với các ngân hàng thương mại nhà nước, cần tham khảo kinh nghiệm tư nhân hóa các ngân hàng thương mại nhà nước ở các nước trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt từ góc độ an ninh, an toàn hệ thống và việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Nếu kinh nghiệm quốc tế cho thấy rõ việc tư nhân hóa, thoái vốn nhà nước, tăng vốn nước ngoài tại các ngân hàng này sẽ không gây ra ảnh hưởng tiêu cực đáng kể cho hệ thống, cho ngân sách cũng như cho toàn bộ nền kinh tế thì Chính phủ cần phải lập báo cáo thuyết phục Quốc hội thông qua cho phép nới room ngoại, hạ tối đa tỷ lệ sở hữu nhà nước.

Tất nhiên là việc đề xuất nới room này cũng vẫn phải được cân nhắc trên khía cạnh có bao nhiêu nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và ở mức độ nào. Trong trường hợp có những phản ứng tích cực thì việc thoái vốn nhà nước, tăng room cho nhà đầu tư nước ngoài ở các ngân hàng thương mại là một việc nên làm, cũng tương tự như việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nói chung hiện nay.

Ngược lại, nếu phản hồi từ phía nhà đầu tư nước ngoài không mấy tích cực thì việc nới room ngoại tạm thời nên được xếp sau những biện pháp có tính “chữa cháy” như cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước được giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, và/hoặc tăng cường phát hành cho các cổ đông hiện hữu (trong nước), giảm thêm tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước... Về lâu về dài thì chính những biện pháp này sẽ cải thiện tính hấp dẫn của các ngân hàng thương mại nhà nước qua đó sẽ tạo thuận lợi cho việc nới room ngoại nếu cần thiết. 

Với các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân khác chưa đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu mới trong khi chưa/không có nhà đầu tư nước ngoài nào thì cần kiên quyết bắt buộc giữ lại lợi nhuận và/hoặc cắt hạn mức tăng trưởng tín dụng... nhằm buộc cổ đông hiện hữu phải rót thêm vốn nếu muốn tồn tại và tiếp tục phát triển.

Theo TBKTSG

Close